Nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015

Nguyễn Thị Hoài Thương Chuyên viên Phòng Quản lý khoa học và Thông tin tư liệu

Xã hội ngày càng phát triển thì quyền con người càng được nhà nước tôn trọng và bảo vệ, từ đó những tư tưởng pháp lý văn minh, tiến bộ tất yếu sẽ được ghi nhận và bảo đảm thực hiện không chỉ trên phương diện lập pháp mà còn cả trên thực tế. Nhằm đáp ứng các yêu cầu của lý luận và thực tiễn trước những đổi mới trong quá trình cải cách tư pháp và phù hợp với luật pháp quốc tế, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) đã có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung, tạo cơ sở cho việc hình thành những chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của các chủ thể trong quá trình tiến hành tố tụng bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Quyền con người và quyền công dân là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt trong cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu những quy định về nguyên tắc Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Kế thừa và phát huy những mặt tích cực từ Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 mà Việt Nam đã tham gia: “Không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước”, Điều 31 Hiến pháp Việt Nam 2013 “Không ai bị kết án hai lần vì một tội” và khoản 4 Điều 107 BLTTHS 2003 về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự:“Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án có hiệu lực pháp luật”, quy định nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là bước cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp năm 2013, góp phần tích cực trong phòng chống oan sai và hạn chế việc cơ quan tiến hành tố tụng quy kết đối với người không phạm tội, là điều kiện cho việc thực hiện các mục đích bảo vệ quyền con người, quyền công dân của tố tụng hình sự.

Liên quan đến nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, trước tiên, cần phân biệt thuật ngữ “vì một tội phạm” và “vì một hành vi phạm tội”, Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Khái quát lại, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Một hành vi cho dù đã cấu thành một hay nhiều tội đã quy định trong Bộ luật hình sự mà vẫn chưa bị xét xử thì hành vi đó vẫn chưa bị coi là tội phạm. Chỉ khi nào hành vi đó bị tòa án tuyên án là tội phạm bằng một bản án có hiệu lực thì bắt đầu từ thời điểm đó, hành vi đó mới gọi là tội phạm.

Trong khi đó, thuật ngữ “hành vi phạm tội” được hiểu là hành vi vi phạm mà Bộ luật hình sự quy định, có thể nói đó chính là hành vi khách quan của tội phạm. Một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định trong pháp luật hình sự thì không được coi là tội phạm. Nói cách khác, chỉ những hành vi làm sai những quy định của pháp luật hình sự, thỏa mãn đầy đủ cấu thành tội phạm thì mới bị coi là tội phạm. Đây là đặc điểm thể hiện tính hình thức pháp lý của một hành vi phạm tội. Hành vi này được quy định bởi dấu hiệu nội dung của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội. Bộ luật hình sự quy định có những trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm như chủ thể không có lỗi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết…

Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và chứa đựng những dấu hiệu được quy định trong luật hình sự là tội phạm nhưng nếu họ chưa bị Tòa án kết án thì họ chưa bị coi là có tội. Cũng cần lưu ý rằng, thuật ngữ “kết án” được hiểu cả ở hai khía cạnh, đó là việc Tòa án ra bản án tuyên bố một người phạm tội hay vô tội đối với hành vi họ đã thực hiện. Không ai bị xem là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật.

Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người khác phải có thái độ tôn trọng họ khi tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết có liên quan đến thân thể và tài sản của họ, phải tạo điều kiện để bị can, bị cáo và người bào chữa sử dụng các biện pháp do luật định để gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giảm bớt trách nhiệm bồi thường thiệt hại và những quyền lợi khác.

Trong giai đoạn xét xử, mặc dù Viện kiểm sát truy tố và Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử họ vẫn chưa được coi là người có tội. Họ tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo, lúc này họ chưa được xem là có tội, vì chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không được đối xử với họ như một người có tội, ngay cả khi Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và kết án bị cáo phạm vào một tội nào đó quy định tại Bộ luật hình sự và áp dụng hình phạt đối với họ thì cũng không vì thế mà cho rằng họ đã là người bị coi là có tội mà chỉ khi nào bản án có hiệu lực pháp luật thì họ mới bị coi là có tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã tuyên.

Nội dung của nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

Trở lại với nguyên tắc “Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm”, nguyên tắc này lần đầu tiên được quy định tại khoản 3 Điều 31 Hiến pháp 2013 của nước ta. Tuy nhiên, nội dung nhân đạo này đã được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định tại khoản 4 Điều 107 về căn cứ không khởi tố vụ án: “Không được khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ sau đây: Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật”. Đồng thời đây cũng là một trong các căn cứ đình chỉ điều tra và căn cứ đình chỉ vụ án được quy định tại Điều 164, Điều 169 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Theo đó, nguyên tắc này có nghĩa là nếu một người thực hiện hành vi phạm tội thì họ chỉ bị xét xử bởi một Tòa án và chỉ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý bởi một bản án.

  Một người khi thực hiện một tội phạm tức là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (đáp ứng các dấu hiệu cấu thành của một tội phạm quy định trong luật hình sự). Do đó, họ phải chịu trách nhiệm hình sự, hình phạt về tội phạm mà họ đã gây ra. Bản án đã tuyên (kết án) đã có hiệu lực pháp luật là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước đối với hành vi phạm tội và trong trường hợp có tội, bản án đưa ra một hình phạt cụ thể trong hệ thống hình phạt của Bộ luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội. Do vậy, người phạm tội khi đã bị xét xử về tội phạm do mình thực hiện và đã có bản án có hiệu lực pháp luật thì không phải chịu thêm bất kỳ một sự kết án nào khác về tội phạm đó. Trong trường hợp bản án có hiệu lực tuyên vô tội thì nguyên tắc trên vẫn được áp dụng như những bản án có hiệu lực khác. Bởi lẽ, dù bản án tuyên có tội hay vô tội thì người phạm tội cũng đã bị một lần xét xử do hành vi mình thực hiện, cho nên không thể chịu thêm bất kỳ lần xét xử nào khác đối với hành vi đó. Trong trường hợp đã khởi tố, điều tra, truy tố về tội phạm trên thì vụ án phải được đình chỉ. Nguyên tắc này thể hiện sự nhân đạo, công bằng trong pháp luật hình sự.

Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định: “Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm”[1]. Nội dung điều luật nghiêm cấm Cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố họ với tư cách là bị can khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật; nghiêm cấm Cơ quan điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp điều tra đối với họ khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật; nghiêm cấm Viện kiểm sát quyết định truy tố họ ra trước Tòa án để xét xử khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật; nghiêm cấm Tòa án xét xử tuyên bố họ phạm tội khi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.

Theo đó, việc truy tố một người có hành vi phạm tội, luật pháp nước ta cũng như các nước trên thế giới đều tuân theo nguyên tắc: Một người phải chịu trách nhiệm hình sự và bị xét xử một lần đối với một hành vi phạm tội. Vì vậy, khi khởi tố vụ án hình sự và suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu ở giai đoạn nào phát hiện hành vi phạm tội đang bị truy cứu đã có một bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật thì các cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án hình sự, không được khởi tố bị can, không được truy tố, không được đưa ra xét xử; nếu đã đưa ra xét xử thì không được kết án người đã có hành vi đó nữa. Trường hợp nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện việc kết án đó là trái pháp luật thì thì cấp giám đốc thẩm phải huỷ bản án đã có hiệu lực và đình chỉ vụ án đối với người bị kết án.

Pháp luật quy định nguyên tắc Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm thể hiện chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta là một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì chỉ bị xử lý một lần. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định nguyên tắc này góp phần tích cực trong việc phòng chống oan sai, hạn chế việc cơ quan tiến hành tố tụng quy kết người không phạm tội; đồng thời kế thừa phát huy mặt tích cực của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định tại khoản 4 Điều 107, những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự: “Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án có hiệu lực pháp luật”.

Mối quan hệ của nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm với một số nguyên tắc cơ bản khác.

Mối quan hệ giữa nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm với nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc Hiến định được quán triệt và quy định tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này”. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được luật điều chỉnh chặt chẽ và pháp luật đó phải được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh. Nguyên tắc này có ý nghĩa đảm bảo cho việc tiến hành giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác có hiệu quả đồng thời cũng đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Có thể thấy nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc cơ bản, trong mối quan hệ với nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm, nó là nền tảng để các chủ thể có thẩm quyền thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ cũng như các trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Theo đó, khi pháp luật đã quy định nguyên tắc này, có nghĩa là không ai có quyền làm trái trong bất kì trường hợp nào. Theo đó, người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điều tương ứng của Bộ luật hình sự. Bộ luật tố tụng hình sự xác định trách nhiệm của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Trong mối quan hệ giữa hai nguyên tắc này, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan nói trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phải xem xét xem hành vi phạm tội đã bị kết tội bởi một quyết định hay bản án nào chưa rồi mới được ra quyết định khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp theo luật định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

Mối quan hệ giữa nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm với nguyên tắc suy đoán vô tội

Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản trong khoa học pháp lý hiện đại. Nguyên tắc này đã được công nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về Quyền chính trị, dân sự năm 1966 của Liên hiệp quốc. Nguyên tắc suy đoán vô tội được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982.

Trong mối quan hệ với nguyên tắc không ai bị kết án hai lần cùng một tội phạm, cả hai nguyên tắc đều có ý nghĩa như sau:

Thứ nhất, cả hai nguyên tắc không chỉ đáp ứng yêu cầu chứng minh: Chứng minh trong tố tụng hình sự là hoạt động cực kỳ phức tạp, không chỉ là những hành vi khách quan, những hậu quả thực tế mà còn cả những yếu tố tâm lý của người phạm tội. Do đó, nếu chỉ chứng minh theo hướng suy đoán có tội hoặc không xem xét kĩ hành vi đó có bị kết án hay chưa thì rất dễ dẫn đến việc coi tố tụng hình sự chỉ đơn thuần là việc bắt người và ra bản án kết tội kèm theo những hình phạt cụ thể. Việc định kiến người bị tình nghi, bị can, bị cáo là người có tội là hết sức nguy hiểm. Nó đồng nhất người bị tình nghi, bị can, bị cáo là người có tội kéo theo đó là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng tràn lan, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người mà nhiều trường hợp khi vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội. Lúc đó, dù Nhà nước có bồi thường oan sai đi chăng nữa thì hậu quả đối với họ không thể nói là đã bù đắp được toàn bộ.

Thứ hai, cả hai nguyên tắc còn bảo vệ được quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Hai nguyên tắc này còn đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là nhà nước với bộ máy điều tra, truy tố xét xử hùng mạnh được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước với một bên yếu thế hơn là người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Như vậy, không chỉ là quyền của người bị buộc tội, nghĩa vụ của bên buộc tội, thể hiện giá trị của văn minh nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người, mà còn phù hợp với quy luật của nhận thức trong tố tụng hình sự: Một người luôn vô tội khi nhà nước không chỉ ra được những bằng chứng chống lại điều này và chứng minh được họ có tội.

Mối quan hệ giữa nguyên tắc không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm với nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội.

Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là nguyên tắc cơ bản đồng thời còn là chế định quan trọng của Luật tố tụng hình sự mang ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Quyền bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng.

Nguyên tắc trên cùng với nguyên tắc không ai bị kết án hai lần cùng một tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng.

Thứ nhất, cả hai nguyên tắc là sự thể hiện cụ thể của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự. Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan ghi nhận quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ chế bảo đảm việc thực hiện là nhiệm vụ của cơ quan đó đã chứng tỏ bản chất ưu việt của Nhà nước ta và thông qua quyền bào chữa, họ có thể tự phản kháng lại quyết định khởi tố sai pháp luật của cơ quan có thẩm quyền khi khởi tố một hành vi đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, cả hai nguyên tắc đều thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Tính nhân đạo được thể hiện, trong những trường hợp theo quy định của pháp luật, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc Toà án yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có cơ hội đưa ra những chứng cứ minh oan hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình, cơ hội được tranh tụng bình đẳng trước Toà án. Điều quan trọng là cả hai nguyên tắc đều góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của hệ thống Tư pháp hình sự./.