Các tội xâm phạm an ninh quốc gia theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 và những điểm mới so với Bộ luật hình sự năm 1999.

02/04/2018

  • Lượt xem: 2665

Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là chế định tội phạm được quy định tại chương đầu tiên trong các chương quy định về tội phạm của Bộ luật hình sự năm 2015 : Chương XIII, gồm 14 điều, từ Điều 108 đến Điều 122. Cụ thể như sau:

Điều 108. Tội phản bội Tổ quốc
1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 109. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;
2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm;
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 110. Tội gián điệp
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại;
c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người đã nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này.

Điều 111. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ
Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân;
2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm;
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 112. Tội bạo loạn
Người nào hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức nhằm chống chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
1. Người tổ chức, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;
2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm;
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 113. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc người khác, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố;
b) Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố;
c) Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác.
3. Phạm tội trong trường hợp đe dọa xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Khủng bố cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo Điều này.
5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 114. Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 115. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điều 116. Tội phá hoại chính sách đoàn kết
1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với các tổ chức chính trị - xã hội;
b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;
c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị - xã hội;
d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 118. Tội phá rối an ninh
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 112 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điều 119. Tội chống phá cơ sở giam giữ
1. Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá cơ sở giam giữ, tổ chức trốn khỏi cơ sở giam giữ, đánh tháo người bị giam giữ, người bị áp giải hoặc trốn khỏi cơ sở giam giữ, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 120. Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
1. Người nào tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 121. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
1. Người nào trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 122. Hình phạt bổ sung
Người phạm tội quy định tại Chương này còn có thể bị tước một số quyền công dân, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Về cơ bản, các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 được kế thừa các quy định của Bộ luật hình sự 1999. Có sửa đổi, bổ sung một số nội dungnhư sau:
Thứ nhất: Bộ luật hình sự 2015 đã phi hình sự hóa đối với tội “ Hoạt động phỉ”.Bỏ quy định về tội Hoạt động phỉ ( Điều 83 của Bộ luật hình sự 1999.
Thứ hai:Bộ luật hình sự 2015 tách Điều 91 của Bộ luật hình sự 1999 quy định tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thành hai điều luật. Đó là Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân) và Điều 121(Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân) .Việc tách ra thành 02 Điều luật như vậy nhằm để phân hóa trách nhiệm hình sự phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm.
Thứ ba: Bộ luật hình sự 2015 bổ sung thêm vào Điều 108 về tội phản bội Tổ quốc cụm từ “ Tiềm lực quốc phòng, an ninh”. Và bổ sung thêm quy định: “ Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
Thứ tư: Bộ luật hình sự 2015 đã giảm mức phạt cao nhất đối với đồng phạm khác của tội “ Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” được quy định tại Điều 109 Bộ luật này. Theo đó mức phạt trước đây là từ 05 năm đến 15 năm, thì giảm còn từ 05 năm đến 12 năm. Và bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội này là từ 01 năm đến 05 năm.
Thứ năm: Các tội gián điệp ( Điều 110), tội xâm phạm an ninh lãnh thổ ( Điều 111), tội bạo loạn ( Điều 112) so với Bộ luật Hình sự 1999 được bổ sung thêm về mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 01 năm đến 05 năm.
Thứ sáu: Tội khủng bố nhằm lật đổ chính quyền nhân dân ( Điều 113 Bộ luật hình sự 2015) được bổ sung thêm trường hợp bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm ( Khoản 2, Điều 113). Và cũng bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 01 năm đến 05 năm.
Thứ bảy: Sửa đổi tên tội danh và quy định rõ ràng hơn về tội “Tuyên truyền chống nhà nước”(Điều 88 Bộ luật hình sự 1999) thành Điều 117 Bộ luật hình sự 2015. Theo đó Bộ luật hình sự 2015 quy định phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Đồng thời cũng bổ sung hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 01 năm đến 05 năm.
Thứ tám: Sửa đổi tên tội danh “ Chống phá trại giam” thành tội “Chống phá cơ sở giam giữ “ ( Điều 119). Bởi lẽ nhà tạm giữ, trại tạm giam, và những nơi đang giam giữ người thực hiện hành vi phạm tội được gọi chung là cơ sở giam giữ.
Thứ chín: Tất cả các quy định mức hình phạt bằng chữ được sửa đổi thành số trong tất cả các Điều luật của chương này.( Ví dụ 10 năm tù thay cho mười năm tù ).
Như vậy, so với Bộ luật hình sự 1999 thì Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi bổ sung đáng kể các quy định về Tội xâm phạm đến an ninh quốc gia. Ý nghĩa của việc sửa đổi, bổ sung này là nhằm xây dựng một Bộ luật phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước hiện nay, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong tư duy lập pháp hình sự; Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013; Ngày càng phát huy hơn nữa vai trò của Bộ luật hình sự với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; tiếp tục thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước. Cụ thể như sau:
Một là: Thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các chủ trương, đường lối của Đảng về Cải cách Tư pháp, đặc biệt là chủ trương: "Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội nói chung và người phạm tội xâm phạm An ninh quốc gia nói riêng. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng".
Hai là : Luôn luôn kế thừa và phát huy các quy định còn phù hợp của Bộ luật Hình sự năm 1999 trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự; bổ sung những quy định mới để giải quyết những vướng mắc, bất cập đang đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm An ninh quốc gia, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số nước trong khu vực và trên thế giới.
Ba là: Việc sửa đổi bổ sung một số nội dung về tội xâm phạm An ninh quốc gia nhằm bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm mọi người được sống trong một môi trường an toàn, lành mạnh.
Bốn là : Trong quá trình phát triển kinh tế và yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước, việc sửa đổi bổ sung này tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, đồng thời, góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm An ninh quốc gia.
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm đấu tranh những loại tội phạm xâm hại An ninh quốc gia theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 những năm vừa qua còn có nhiều diễn biến phức tạp. Công cuộc đổi mới của đất nước ta đã trải qua hơn 30 năm với nhiều thời cơ thuận lợi và giành được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức; những nhân tố tác động đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đang diễn biến rất phức tạp. Tình hình làm lộ bí mật hoặc mất thông tin kinh tế đã xảy ra ở nhiều cơ quan, xí nghiệp gây nhiều thiệt hại. Các hoạt động nhằm phá hoại kinh tế được tiến hành cả bề rộng lẫn bề sâu nhằm phá hoại các chủ trường đường lối kinh tế, các công trình trọng điểm của ta. Tình hình an ninh biên giới còn nhiều phức tạp, nhập cảnh trái phép, lợi dụng mối quan hệ của các dân tộc hai bên biên giới, các đối tượng đã móc nối, xúi giục, lôi kéo, chia rẽ các dân tộc dòng họ, tiến tới gây bạo loạn. Các thế lực thù địch sẽ tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam, triệt để khai thác những khó khăn, các vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 nói chung,và các quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói riêng, sẽ góp phần đấu tranh có hiệu quả loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay và những năm sắp tới ./.

 Hoàng Ngọc Anh
 (Khoa Tội phạm học và Điều tra Tội phạm)

 

Tin khác

Điều kiện để dữ liệu điện tử có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Điều kiện để dữ liệu điện tử có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 sau đây gọi tắt là BLTTHS 2015), trong đó có quy định mới về chứng cứ dữ liệu điện tử. Trong bài viết này tác giả chỉ tập trung phân tích điều kiện để dữ liệu điện tử có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

19/07/2018

Phân tích điều 66 của bộ luật hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện

Phân tích điều 66 của bộ luật hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là một chính sách hình sự mới hết sức nhân đạo được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thực hiện chủ trương “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội ” đã được nêu rõ trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

29/05/2018

Tập hợp văn bản pháp luật liên quan đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Tập hợp văn bản pháp luật liên quan đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Tập hợp văn bản pháp luật liên quan đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

28/05/2018

Bình luận điều 187 Bộ luật hình sự năm 2015,  sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội  tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Bình luận điều 187 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Bình luận điều 187 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

06/07/2018

Địa chỉ: Đường 449, Khu phố 2, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9 - Tp. HCM.

Số điện thoại: 028-38960122

E-mail: banbientap@tkshcm.edu.vn