Một số khó khăn, vướng mắc khi giải quyết án ma túy tại VKSND thành phố Mỹ Tho, thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

12/07/2017

  • Lượt xem: 2101

Thời gian qua tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang diễn biến phức tạp

Theo số liệu thống kê của Phòng thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang từ năm 2014 đến 06 tháng đầu năm 2016, Cơ quan điều tra 02 cấp đã khởi tố mới 155 vụ/210 bị can, cụ thể: Năm 2014, Cơ quan điều tra cấp Tỉnh khởi tố 00 vụ/00 bị can. Cơ quan điều tra cấp huyện (10 Huyện) khởi tố 70 vụ/94 bị can; trong đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố Mỹ Tho khởi tố 28 vụ/35 bị can, chiếm tỷ lệ 40%. Năm 2015, Cơ quan điều tra cấp Tỉnh khởi tố 00 vụ/00 bị can. Cơ quan điều tra cấp huyện khởi tố 39 vụ/49 bị can; trong đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố Mỹ Tho khởi tố 13 vụ/14 bị can, chiếm tỷ lệ 33,33%. 06 tháng đầu năm 2016, Cơ quan điều tra cấp Tỉnh khởi tố 03 vụ/08 bị can. Cơ quan điều tra cấp huyện khởi tố 43 vụ/59 bị can; trong đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố Mỹ Tho khởi tố 13 vụ/13 bị can, chiếm tỷ lệ 30,23%. Cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đảm bảo các vụ án ma túy được khởi tố điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc giải quyết án ma túy vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc xuất phát từ quy định của các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao với các Công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao chưa thống nhất liên quan đến việc giám định hàm lượng các chất ma túy trong các vụ án "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại Điều 194 của Bộ luật hình sự từ đó dẫn đến hệ quả án phải hoàn hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ, án bị cấp trên kháng nghị, đặc biệt là gây khó khăn cho việc xem xét quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống đối với loại tội phạm này tại địa phương.

Ngày 17/9/2014, Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Công văn số 234 gửi Tòa án nhân dân các địa phương hướng dẫn nghiệp vụ liên quan đến việc giám định hàm lượng ma túy, cụ thể "Bắt buộc phải giám định hàm lượng của các chất ma túy trong các chất thu giữ nghi là chất ma túy, để lấy đó làm căn cứ kết tội các bị cáo theo quy định tại Chương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của Bộ luật hình sự năm 1999". Chính từ hướng dẫn này mà Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho đã hoàn trả nhiều hồ sơ án ma túy cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung với nội dung yêu cầu giám định hàm lượng các chất ma túy đã thu giữ, một số trường hợp sau đó buộc phải đình chỉ hoặc bị kháng nghị phúc thẩm. Điển hình như các vụ:

- Vụ Phan Tấn Lộc can tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại Điều 194 của Bộ luật hình sự. Nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ ngày 21/5/2014, Cơ quan điều tra bắt quả tang Lộc đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ 02 gói nylon bên trong có tinh thể màu trắng. Căn cứ Bản kết luận giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 gói nylon đều có chứa thành phần Methamphetamine, trọng lượng 1,4245 gam. Vụ án sau đó được truy tố chuyển Tòa xét xử nhưng đến ngày 09/10/2014, Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho căn cứ vào quy định tại Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12/2007 và Công văn 234 trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung với nội dung yêu cầu giám định hàm lượng chất ma túy đã thu giữ. Sau đó, Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung với nội dung nêu trên. Tại bản kết luận giám định của Viện khoa học hình sự kết luận Hàm lượng ma túy là 69,2% tức trọng lượng chỉ 0,9857 gam (dưới 01 gam theo quy định tại Thông tư 17) nên Cơ quan điều tra buộc phải ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can Lộc về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Vụ Nguyễn Thị Hồng Tiên can tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Nội dung vụ án: Khoảng 17 giờ ngày 06/11/2015, Cơ quan điều tra bắt quả tang Tiên tàng trữ trái phép chất ma túy (Trọng lượng 125,0706 gam Methamphetamine có hàm lượng 92,8548 gam) và Phạm Đình Thanh Quang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Trọng lượng 1,4996 gam Ecstasy và Methamphetamine có hàm lượng 0,6385 gam). Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho truy tố Tiên về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự; riêng Quang do kết luận giám định hàm lượng dưới 01 gam nên không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh trên và Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho đã xét xử Tiên đúng tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Sau đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang ban hành kháng nghị phúc thẩm đề nghị hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, cụ thể: Không truy cứu trách nhiệm hình sự Quang về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là bỏ lọt tội phạm vì Quang có hành vi tàng trữ 1,4996 gam (Căn cứ vào trọng lượng, không căn cứ vào hàm lượng) và nhận định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Tiên 125,0706 gam (Căn cứ vào trọng lượng, không căn cứ vào hàm lượng) thuộc điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự nên thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của cấp Tỉnh, việc Cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Mỹ Tho giải quyết là trái thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự. Tuy nhiên kháng nghị trên không được Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang chấp nhận và tuyên giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Sau khi Công văn 234 được ban hành; ngày 14/11/2015 Liên ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân Tối cao, Bộ tư pháp thống nhất ban hành Thông tư liên tịch số 08/2015 sửa đổi một số Điều của Thông tư liên tịch số 17 quy định chỉ bắt buộc giám định hàm lượng trong những trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08, cụ thể: "2. Sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau: 1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau: a, Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch; b, Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; c, Xái thuốc phiện; d, Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần; Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật". Ngày 11/12/2015, Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Công văn số 315 về việc thực hiện Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17 hướng dẫn 02 trường hợp Tòa án có quyền giám định bổ sung hoặc giám định lại để xác định hàm lượng chất ma túy, tiền chất làm căn cứ xác định đúng trọng lượng chất ma túy, tiền chất nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: "Những vụ án ma túy mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt có mức án từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; Những vụ án mà trong giai đoạn xét xử, Tòa án xét thấy có đủ căn cứ để xác định người thực hiện hành vi phạm tội đã pha trộn các chất không phải là chất ma túy, tiền chất vào chất ma túy, tiền chất".

Với quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08 đã cơ bản tháo gỡ được khó khăn, vướng mắc trong việc xác định trường hợp cần giám định hàm lượng chất ma túy từ đó góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời. Tuy nhiên đến ngày 21/6/2016, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân Tối cao lại tiếp tục ban hành Công văn số 110 về việc thực hiện Thông tư liên tịch số 08 và các văn bản có liên quan hướng dẫn mở rộng hơn nữa các trường hợp buộc phải giám định hàm lượng, cụ thể: "Việc giải quyết các vụ án ma túy phải được thực hiện theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013, tức là phải căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự (Bộ luật hình sự quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy chứ không phải là chế phẩm chất ma túy); tất cả những văn bản dưới luật không phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự thì không áp dụng để giải quyết vụ án. Đối với các vụ án có kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền khẳng định là chế phẩm hoặc chứa thành phần chất ma túy mà không xác định rõ trọng lượng chất ma túy; các vụ án thuộc các trường hợp nêu tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08 và Công văn 315/TANDTC-PC, thì khi giải quyết Tòa án yêu cầu cơ quan cơ quan có thẩm quyền trưng cầu giám định hoặc căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các quy định pháp luật khác có liên quan trưng cầu giám định để xác định hàm lượng, trên cơ sở đó xác định trọng lượng chất ma túy, làm căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội". Với quy định tại Công văn số 315 và Công văn số 110 cho thấy vô hình chung Tòa án nhân dân Tối cao tiếp tục bảo vệ "quan điểm" được nêu tại Công văn số 234 bởi lẽ hầu hết các chất ma túy hiện nay mà người phạm tội thực hiện đa phần đều là ma túy tổng hợp và kết quả giám định đều có nêu cụm từ "có chứa thành phần" ma túy mà theo Công văn 110 lại bắt buộc phải được giám định hàm lượng.

Qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử án ma túy trên địa bản thành phố Mỹ Tho cho thấy, hầu hết các đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy đều là con nghiện, tàng trữ để sử dụng cho bản thân với trọng lượng (khối lượng) rất ít, thậm chí có trường hợp khi bắt quả tang giám định chỉ có trọng lượng từ 01 gam đến 1,5 gam và đa phần là ma túy tổng hợp như Methamphetamine, Ecstasy. Nếu căn cứ vào Thông tư liên tịch số 17, Thông tư liên tịch số 08 và quy định của Bộ luật hình sự hiện hành với trọng lượng thực tế nêu trên đủ căn cứ để Viện kiểm sát phê chuẩn khởi tố bị can về tội danh Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên nếu căn cứ vào Công văn 110 ngày 21/6/2016 thì việc phê chuẩn sẽ không đảm bảo cơ sở vững chắc bởi lẽ đối với loại ma túy tổng hợp về khoa học thì ngoài "tinh chất" ma túy còn có 01 số thành phần hóa học khác hợp thành. Do vậy, khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định thì 100% các bản kết luận của cơ quan giám định chuyên môn như Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đều thể hiện cụm từ "có chứa thành phần" và căn cứ vào Thông tư liên tịch số 08 họ từ chối giám định "hàm lượng" chất ma túy nếu Cơ quan điều tra có trưng cầu. Điễn hình như vụ Trần Quốc Tuấn, sinh năm 1996, ngụ số 7/15, đường Trần Nguyên Hãn, phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Lúc 15 giờ 30 phút ngày 07/01/2016, tại phòng trọ số 12 nhà thuê trọ số 468, ấp Mỹ An, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Mỹ Tho phối hợp với Công an xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho bắt quả tang Tuấn đang cất giữ trái phép chất ma túy trên tay. Tại bản kết luận giám định số 462/C54B ngày 11/01/2016 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: "Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định có chứa thành phần Methamphetamine, trọng lượng 4,1473 gam. Căn cứ Thông tư liên tịch số 08 ngày 14/11/2015, nhóm mẫu trên không thuộc nhóm phải xác định hàm lượng. Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh không trả lời hàm lượng theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra".

Căn cứ quy định của pháp luật (Thông tư liên tịch số 08) và trên cơ sở khoa học về các chất hợp thành đối với các loại ma túy tổng hợp thì việc Cơ quan giám định ma túy chuyên môn từ chối giám định hàm lượng ma túy và không thể bỏ cụm từ "có chứa thành phần" trong bản kết luận giám định là hoàn toàn đúng đắn, trên cơ sở khoa học và đúng pháp luật. Ngược lại cũng căn cứ vào Thông tư liên tịch số 08 kèm hướng dẫn tại Công văn 110 ngày 21/6/2016 của Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn nếu kết luận giám định có cụm từ "có chứa thành phần" thì đây là 01 trong nhưng căn cứ Tòa án có thể tự mình hoặc trả hồ sơ cho Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra điều tra bổ sung với nội dung bắt buộc phải giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy, làm căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Thực tiễn giải quyết án ma túy trong thời gian qua tại các địa phương khác trên cả nước nói chung và tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho nói riêng cho thấy, việc Tòa án nhân dân Tối cao "đột ngột" ban hành Công văn 234 và mới đây là công văn số 315 và Công văn 110 đã và sẽ gây khó khăn rất lớn cho việc phát hiện, khởi tố điều tra, truy tố xét xử án ma túy như đã nêu trên. Thật bất hợp lý khi các công văn nêu trên của Tòa án nhân dân Tối cao chỉ là văn bản hướng dẫn đơn ngành nhưng vô hình chung lại là văn bản hướng dẫn giải thích văn bản quy phạm pháp luật đó chính là Thông tư liên tịch số 17, Thông tư liên tịch số 08 của Liên ngành Trung ương, hơn nữa các hướng dẫn này lại mang tính "nhỏ giọt", "đột ngột" dẫn đến án phải bị hoàn trả điều tra bổ sung, án bị đình chỉ và nếu Viện kiểm sát có kháng nghị cũng không được chấp nhận. Đặc biệt, đây là "rào cản" rất lớn cho Viện kiểm sát xét phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm về ma túy phát sinh trong thời gian tới, bởi lẽ trong những trường hợp người thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tổng hợp nhỏ lẽ như đã nêu trên nếu trọng lượng căn cứ vào Thông tư liên tịch số 17 đã đủ và không rơi vào các điểm a, b, c, d tiết 1.4 khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08 mà Viện kiểm sát không phê chuẩn thì không đúng, bỏ lọt tội phạm; nếu căn cứ vào hướng dẫn đơn ngành tại Công văn 110 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra giám định hàm lượng làm căn cứ xác định trọng lượng thì Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận và Cơ quan có thẩm quyền giám định sẽ từ chối vì không thuộc các trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng mà Thông tư liên tịch số 08 đã quy định. Nếu Viện kiểm sát vẫn phê chuẩn, hoàn tất hồ sơ chuyển sang tòa án cùng cấp xét xử khi kết luận giám định có nêu cụm từ "chứa thành phần" nhưng chưa được giám định "hàm lượng" thì nếu Tòa án cho rằng kết luận giám định có nêu cụm từ "có chứa thành phần" nên căn cứ vào Thông tư liên tịch số 08 và Công văn số 110 của Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án cùng cấp tự mình trưng cầu hoặc trả hồ sơ cho Viện kiểm sát từ đó sẽ có không ít trường hợp vụ án buộc phải đình chỉ do hàm lượng (trọng lượng thực tế) của chất ma túy dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó làm giảm lòng tin của người dân, giảm uy tín của ngành, ảnh hưởng rất lớn đến công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay.

Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên; tôi kiến nghị đến Liên ngành Trung ương:

- Thứ nhất: Liên ngành Trung ương cần sớm đưa ra họp bàn có kết luận chính thức để liên ngành tố tụng địa phương thống nhất thực hiện, đảm bảo mọi quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát đối với án ma túy đều đúng pháp luật.

- Thứ hai: Cần giữ nguyên 04 trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng nêu tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08. Không chấp nhận các hướng dẫn phát sinh các trường hợp phải giám định hàm lượng được nêu tại Công văn số 315 và Công văn số 110 của Tòa án nhân dân Tối cao.

- Thứ ba: Cần bỏ đoạn "Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật" được nêu tại khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08, bởi lẽ:

+ Đây là quy định mang "tính mở" thể hiện việc xây dựng pháp luật chưa được chặt chẽ, cụ thể, rất dễ phát sinh những hướng dẫn đơn ngành chồng chéo mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, gây khó khăn trong việc hiểu và áp dụng pháp luật sẽ không được thống nhất.

+ Việc quy định như trên theo tôi sẽ không được Cơ quan giám định thực hiện, bởi lẽ cụm từ "nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết" là quy định "để dành" không rõ ràng, không mang tính liệt kê như quy định tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 08, trường hợp Tòa án tự mình trưng cầu giám định hàm lượng chất ma túy trong những vụ án đơn thuần chỉ tàng trữ trái phép chất ma túy mà trong bản kết luận giám định trước đó có nêu cụm từ có "chứa thành phần" mà theo Công văn 110 bắt buộc phải giám định hàm lượng thì Cơ quan giám định sẽ từ chối yêu cầu vì không thuộc các trường hợp mà Thông tư liên tịch số 08 hướng dẫn.

- Thứ tư: Trong quá trình áp dụng Thông tư liên tịch số 08 nếu phát sinh những nội dung mới phù hợp, khoa học liên quan đến việc giám định hàm lượng chất ma túy cần quy định thêm để việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì Liên ngành Trung ương sẽ họp thống nhất quyết định sửa đổi, bổ sung bằng một Thông tư liên tịch khác cho phù hợp với thực tế phát sinh và cần quy định một mốc thời gian hợp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng có điều kiện giải quyết những vụ việc còn tồn đọng khi áp dụng những hướng dẫn, quy định cũ trước đó, tránh để xảy ra những khó khăn, bất cập như tại thời điểm Công văn 234 của Tòa án trước đây đã ban hành.

Thông qua bài viết này rất mong nhận được sự trao đổi, tranh luận của bạn đọc trong và ngoài ngành để pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất; đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh để xảy ra oan sai, sót lọt tội phạm./.

Trần Quốc Nam
Phó viện trưởng- VKSND thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

Tin khác

Những khó khăn của cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại Tình dục trẻ em

Những khó khăn của cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại Tình dục trẻ em

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/12/2015 đến ngày 30/6/2018, trên phạm vi cả nước Cơ quan điều tra đã thụ lý giải quyết 4.344 tố giác, tin báo về tội xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE); khởi tố 2.8343 bị can/3.139 vụ; không khởi tố 612 vụ việc. So với những loại tội khác, tội XHTDTE ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp, tuy nhiên để đưa được người phạm tội ra trước ánh sáng công lý gặp rất nhiều khó khăn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến những khó khăn của các quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết loại án này

07/01/2019

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

25/12/2018

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

16/11/2018

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

16/11/2018

Tin tức

Địa chỉ: Đường 449, Khu phố 2, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9 - Tp. HCM.

Số điện thoại: 028-38960122

E-mail: banbientap@tkshcm.edu.vn