Một số vấn đề về thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi quy định trong bộ luật dân sự 2015 dưới góc nhìn so sánh với pháp luật quốc tế

20/09/2017

  • Lượt xem: 5778

Th.S Lê Đinh Bảo Trâm – GV Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại TP.Hồ Chí Minh

1.    Đặt vấn đề
Quá trình thực hiện hợp đồng luôn hàm chứa nhiều loại rủi ro bất thường từ thiên nhiên, xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học- kỹ thuật, …, kể cả rủi ro về con người.  Những rủi ro này có thể làm việc thực hiện hợp đồng trở nên khó khăn, thâm chí là không thể thực hiện được, làm mất đi thế cân bằng vốn có về quyền và lợi ích của các bên tham gia hợp đồng. Chính vì vậy, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên giao kết hợp đồng và phân chia hợp lý rủi ro có thể xảy ra, những cơ chế giải quyết các trường hợp rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng đã được quy định cụ thể trong pháp luật quốc tế, đồng thời được nhiều quốc gia tiếp nhận vào pháp luật quốc gia và pháp điển hóa. Một trong số đó là điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi. Trong thực tiễn xét xử, pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia thừa nhận với các tên gọi khác nhau nhau như điều khoản “Khó khăn trở ngại” (Hardship) hay điều khoản “Hoàn cảnh thay đổi” (Change of circumstances).

Ở Việt Nam, vấn đề loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “hoàn cảnh thay đổi” mới đây được ghi nhận tại Điều 420 Bộ luật dân sự 2015 với tên gọi là “Thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản”. Tuy nhiên, quy định này vẫn còn được biết đến hạn chế và chưa áp dụng trong thực tiễn pháp lý. Vấn đề cải cách và hoàn thiện hệ thống hệ thống pháp luật của nước ta phù hợp với nhu cầu hội nhập quốc tế được đặt ra hết sức cấp thiết, đồng thời, khẳng định việc ghi nhận quy định về thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật Việt Nam hiện hành là cần thiết.

2. Quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” trong pháp luật một số quốc gia và tập quán thương mại
Từ lâu, vấn đề miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng đã không còn mới mẻ đối với khoa học pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật. Hầu hết các nguồn pháp luật trên thế giới đều thừa nhận và áp dụng chế định miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng. Từ đó có thể nhận thấy tầm quan trọng của chế định miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng thương mại quốc tế hàng hoá là không thể phủ nhận và chế định này được hầu hết các nền lập pháp trên thế giới công nhận.

Theo pháp luật Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác trên thế giới, việc không thực hiện hợp đồng là hành vi trái pháp luật do có lỗi của bên vi phạm, và bên vi phạm bị buộc phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình trước bên có quyền bị vi phạm. Nhưng nếu việc không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là do “Trường hợp bất khả kháng”; “Việc không thực hiện hợp đồng hoàn toàn do lỗi của bên có quyền bị vi phạm”; “Lỗi của bên thứ ba được ủy quyền” thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm về việc không thực hiện nghĩa vụ theo lý thuyết về miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng. 

Ban đầu, những trường hợp này được giải quyết bằng các cơ chế giải phóng nghĩa vụ của luật hợp đồng cổ điển, như cho phép bên vi phạm được chấm dứt hợp đồng và được miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng dựa trên “điều khoản bất khả kháng” hay gọi cách khác là “Trường hợp bất khả kháng”. Về sau, khi nhận thấy rằng, “Trường hợp bất khả kháng” không còn thích hợp để giải quyết nhiều vấn đề được đặt ra từ thực tiễn, vì trong nhiều trường hợp, cách giải quyết dựa trên quy định về “Trường hợp bất khả kháng”” này không bảo đảm được sự công bằng cho các bên. Để có cơ chế khác thích hợp hơn trong việc bảo đảm lợi ích các bên nhằm chia sẻ hợp lý rủi ro và tái lập sự cân bằng quyền và lợi ích của của hợp đồng, các thương nhân quốc tế đã đưa vào hợp đồng một điều khoản cho phép một bên gặp khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng  được yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng. Điều khoản này được gọi là điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “ Trở ngại khách quan”/” Hoàn cảnh thay đổi” hay “Điều khoản đàm phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi do hoàn cảnh” dẫn đến khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng, được gọi ngắn gọn là điều khoản “Hoàn cảnh thay đổi” (hardship).

Tương tự các chế định miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng, quy định về thực hiện hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” cũng xây dựng trên nền tảng lý luận về hợp đồng và vi phạm hợp đồng. 

Quy định về điều khoản “Hardship” – điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng – có thể được định nghĩa ““Hoàn cảnh thay đổi” là điều khoản cho phép các bên đàm phán lại hợp đồng, được xác lập khi một bên hợp đồng không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nội dung hợp đồng do có sự thay đổi về các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, làm giá cả hàng hóa tăng giảm bất thường, hoặc việc thực hiện nghĩa vụ trở nên tốn kém và khó khăn” - hàm chứa những đặc điểm dặc trưng, phân biệt nó với chế định miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng. Việc nghiên cứu điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do“Hoàn cảnh thay đổi” đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm, thực hiện nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu là kết quả khoa học của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý nước ngoài và nghiên cứu ở phương diện  thực tiễn áp dụng quy định về điều khoản này của cộng đồng quốc tế theo pháp luật quốc tế và khảo sát thực trạng xây dựng quy định và áp dụng quy định pháp luật của một số quốc gia đã nội luật hóa điều khoản này. 

Theo định nghĩa của Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” – “Hardship Clause” được xác lập khi có “Các sự kiện khách quan xảy ra làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống…” và thỏa mãn bốn điều kiện “Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng; bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng; các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi; và, rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu” . Điều này cho thấy, để được xem xét miễn trừ nghĩa vụ vi phạm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” , những “Trở ngại khách quan” cần có những dấu hiệu bổ sung kèm theo để nhận biết về hoàn cảnh thay đổi và/hoặc những sự kiện bị loại trừ. Điều khoản “Hoàn cảnh thay đổi” được thể hiện trong Bộ nguyên tắc luật hợp đồng chung Châu Âu (PECL) với tên gọi “Sự thay đổi hoàn cảnh” (Change of Circumstances). Theo đó, “Mỗi bên phải hoàn thành các nghĩa vụ của mình, ngay cả khi việc thực hiện hợp đồng trở nên tốn kém hơn, do chi phí thực hiện tăng hoặc do giá trị của khoản thanh toán giảm”, và “Tuy nhiên, nếu việc thực hiện hợp đồng trở nên quá khó khăn bởi vì có sự thay đổi về hoàn cảnh, các bên buộc phải tiến hành thoả thuận với quan điểm là chỉnh sửa hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng, với điều kiện là: (a) Việc thay đổi hoàn cảnh xảy ra sau thời gian ký kết hợp đồng; (b) khả năng xảy ra sự thay đổi về hoàn cảnh không phải là một trong những tình huống mà các bên buộc phải tính đến khi ký kết hợp đồng; và (c) rủi ro về sự thay đổi không phải là một tình huống, theo như hợp đồng, bên bị ảnh hưởng bị yêu cầu là phải gánh chịu”  . Như vậy, mặc dù trong PECL, điều khoản điều chỉnh hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” được sử dụng với tên gọi khác với PICC, nhưng vấn đề được quy định trong hai văn kiện này tương đối đồng nhất về khái niệm, phạm vi áp dụng, cũng như xử lý hệ quả của nó. So với PICC, quy định trong PECL có phần đầy đủ và hợp lý hơn vì quy định trách nhiệm đàm phán lại hợp đồng trước, và chỉ khi các bên không điều chỉnh thì tòa án “cho chấm dứt” hoặc “sửa đổi hợp đồng theo một cách thức công bằng”.

Như vậy, điều loại loại trừ trách nhiệm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi”có thể được định nghĩa như sau: ““Hoàn cảnh thay đổi” là điều khoản cho phép các bên đàm phán lại hợp đồng, được xác lập khi một bên hợp đồng không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nội dung hợp đồng do có sự thay đổi về các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, làm giá cả hàng hóa tăng giảm bất thường, hoặc việc thực hiện nghĩa vụ trở nên tốn kém và khó khăn”.

Trước nhu cầu thực tiễn, rất nhiều  quốc gia đã nội luật hóa quy định của tập quán thương mại quốc tế về điều khoản loại trừ trách nhiệm hợp đồng do “Hoàn  cảnh  thay đổi”phù hợp với thể chế và hệ thống pháp luật từng quốc gia. Ở Italia, khi có vi phạm nghĩa vụ hợp đồng do“hoàn cảnh thay đổi”, các bên giao kết hợp đồng có thể bị huỷ bỏ khi có sự kiện xảy ra một cách bất thường, không thể lường trước được, sau khi hợp đồng được ký kết và trước khi thực hiện hợp đồng, và sự kiện này làm cho việc thực hiện hợp đồng của một bên trở nên vô cùng khó khăn. Nhưng các bên cam kết có thể tránh việc huỷ bỏ hợp đồng bằng cách đề nghị chỉnh sửa hợp đồng một cách công  bằng” hoặc các bên có thể yêu cầu thẩm phán “thiết lập lại sự cân bằng trong hợp đồng theo một số điều kiện do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, các quy định này không phải là bắt buộc và các bên có thể thoả thuận với nhau áp dụng hoặc không phải áp dụng quy định. Ở Bồ Đào Nha, cơ sở của việc đàm phán lại nội dung hợp đồng là “Hợp đồng được kí kết do nhầm lẫn”, và “Có hoàn cảnh thay đổi”. Mặt khác, pháp luật Bồ Đào Nha cũng quy định nếu có “Hoàn cảnh thay đổi” làm cho một bên không thể thực hiện nghĩa vụ của mình mà đó phải là rủi ro đối với hợp đồng đã kí kết, thì bên bất lợi có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, hoặc sửa đổi hợp đồng dựa trên cơ sở công bằng khi nghĩa vụ mà người đó buộc phải thực hiện vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc trung thực, thiện chí. Đồng thời, bên bị thiệt hại không được yêu cầu sửa đổi bổ sung hợp đồng, nếu việc vi phạm hợp đồng tại thời điểm có sự thay đổi hoàn cảnh có lỗi của bên bị thiệt hại. Ở Nhật Bản, Luật thực định cũng thừa nhận việc loại trừ trách nhiệm vi phạm chobên vi phạm và cho phép bên vi phạm có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng khi có “Hoàn cảnh thay đổi”. Pháp luật Nhật Bản quy định bên đã cam kết phải có trách nhiệm với bên kia do việc không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Các luật gia Nhật Bản cũng chấp nhận học thuyết “Thay đổi hoàn cảnh” khi chi phí thực hiện hợp đồng thương mại hàng hóa hay giá cả thị trường có sự thay đổi lớn. Học thuyết này cũng được tòa án Nhật Bản chấp nhận và áp dụng từ sau thế chiến thứ hai, đến nhiều thập niên sau này, cụ thể là từ sau Sắc lệnh kiểm soát hóa được ban hành“và sau đó trở thành nguyên tắc chung của hợp đồng. Ở Anh và Mỹ, án lệ có những phán quyết không thống nhất về vấn đề áp dụng “Hoàn cảnh thay đổi” nhưng đồng thời cùng không chấp nhận việc “Hoàn cảnh thay đổi” làm chấm dứt hợp đồng thương mại hàng hóa. Tùy vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án sẽ có những phán quyết mang tính riêng biệt dựa trên quy định chung của thế giới về “Hoàn cảnh thay đổi” và thỏa mãn tiêu chí hợp lý và công bằng.

Khi so sánh với các chế định miễn trách nhiệm hợp đồng, có thể thấy rằng sự khác biệt giữa chế định loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng  do “Hoàn cảnh thay đổi” và chế định miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng, đặc biệt là miễn trách nhiệm vi phạm  hợp đồng do “Trường hợp bất khả kháng”, như sau:

Thứ nhất, “Sự kiện khách quan nằm ngoài khả năng tiên liệu” đều được thừa nhận như một điều kiện để xem xét miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “Sự kiện bất khả kháng” hoặc loại trừ trách nhiệm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi”. Tuy nhiên, “Sự kiện khách quan” được xem xét khi miễn trách nhiệm hợp đồng thông thường là do rủi ro bất thường từ hiện tượng thiên nhiên như mưa đá, sạc lở, giông bão, sương muối, hay do người khác ngăn cản vì tư thù cá nhân; hiện tượng xã hội cũng có thể được xem là sự kiện khách quan gây trở ngại, tuy nhiên, việc thừa nhận và quan điểm về vấn đề này chưa có sự thống nhất. Trong lý luận về điều khoản “Hoàn cảnh thay đổi”, “Sự kiện khách quan” thường là sự thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, có nghĩa là, khi áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng, rủi ro từ hiện tượng xã hội được thừa nhận nhất quán hơn.

Thứ hai, phạm vi áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng rộng rãi hơn, thường được dành cho việc điều chỉnh các hợp đồng dài hạn; Phạm vi áp dụng của quy định về “Hoàn cảnh thay đổi”có phạm vi áp dụng rộng hơn là do quy định về điều khoản này chỉ nêu hậu quả mà sự kiện khách quan trở ngại gây ra có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hợp đồng của bên vi phạm. Ở đây, khác với sự xuất hiện của sự kiện bất khả kháng làm cho hợp đồng  không thể thực hiện được, “Hoàn cảnh thay đổi” không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mức đó nhưng nếu thực hiện hợp đồng thì một bên trong hợp đồng sẽ gánh chịu thiệt hại nghiêm trọng hơn so với bên còn lại. Chính vì quy định ở phạm vi áp dụng rộng, nên khi cơ quan có thẩm quyền xem xét tranh chấp, một vấn đề nhiều tranh cãi phát sinh là đối với trường hợp nào mới có thể  áp dụng quy định loại trừ trách nhiệm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” cho phù hợp xuất phát sự khác nhau về tập quán thương mại, thông lệ, pháp luật quốc gia và nhận thức của người áp dụng pháp luật. 

Thứ ba, nếu trong trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng một bên phải gánh chịu hậu quả do một bên còn lại không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng thì trong trường hợp loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” bên vi phạm sẽ phải đối mặt với thiệt hại nghiêm trọng về lợi ích nếu tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Sự “Khó khăn đáng kể”hay “Tốn kém đáng kể” nếu thực hiện nghĩa vụ cam kết trong thực tiễn giải quyết tranh chấp rất đa dạng. Sau đây là một số trường hợp được xem là có xảy ra “Hoàn cảnh thay đổi” và tình huống thực tế:
+ Biến động về giá trị hàng hóa, tăng lên 50%, 60%,…, hoặc thậm chí
là 10 lần so với giá cả đã thỏa thuận.
+ Thị trường đối với hàng hóa trong hợp đồng không còn nữa.

Thứ tư, thay vì mặc nhiên giải phóng nghĩa vụ của bên vi phạm hợp đồng như  tiền lệ của lý thuyết miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng, điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng đề xuất, cho phép, khuyến nghị, đồng thời định hướng các bên đàm phán lại hợp đồng và chỉnh sửa các điều khoản hợp đồng sao cho việc thực hiện hợp đồng có thể được tiếp tục. Nội dung đàm phán lại hợp đồng giữa các bên tham gia hợp đồng hóa có thể là thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hoặc thỏa thuận thay đổi, chỉnh sửa nội dung hợp đồng. Tuy nhiên, việc các bên có thể thỏa thuận để giải quyết tranh chấp là điều kiện lý tưởng. Trên thực tế, không ít các hợp đồng không thể thực hiện được khi có “Hoàn cảnh thay đổi” cần đến sự trợ giúp, phán xét của các chuyên gia và cơ quan tài phán. Lúc này, thực tiễn áp dụng quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi lại đặt ra vấn đề đó là sự cần thiết phải xây dựng  quy định về cách thức và thủ tục để các bên có thể thương thảo lại với nhau về việc sửa đổi nội dung hợp đồng; hoặc cơ chế yêu cầu tòa án xem xét “Trong thời gian không chậm trễ” và cơ chế giải quyết của cơ quan tài phán trong trường hợp các bên không thể đi đến thỏa thuận chung về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng.

3. Quy định về loại trừ trách nhiệm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” trong pháp luật Việt Nam
Trong khoa học pháp lý, nhiều học giả trong quá trình nghiên cứu những vấn đề về hợp đồng, đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về “hoàn cảnh thay đổi”. TS. Nguyễn Minh Hùng cho rằng :“Hardship” là điều khoản quy định cho phép một bên trong hợp đồng có quyền đàm phán lại hợp đồng yêu cầu bên còn lại điều chỉnh hợp đồng, khi có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế, tới mức gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến khả năng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, cụ thể là làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên cực kỳ khó khăn và tốn kém”  . TS. Bành Quốc Tuấn định nghĩa: “Điều khoản hardship” là “Điều khoản khó khăn trở ngại”, được hiểu là điều khoản về những trường hợp mà khi xảy ra làm thay đổi một cách căn bản về tính cân bằng của hợp đồng (thường là liên quan đến lợi ích) đã được các bên thỏa thuận quy định trước đó có trong hợp đồng. Ví dụ như là: đồng tiền được thỏa thuận khi mua bán bị mất giá, giá cả hàng hóa mua bán tăng lên giảm xuống một cách đáng kể,… Khi những trường hợp này xảy ra bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hợp đồng nếu bên còn lại không chấp nhận đàm phán” .

3.1. Trước khi Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật
Tuy không có khái niệm tương đồng với khái niệm “Hardship” hay “Change of circumstances” như các quốc gia khác, nhưng Bộ luật dân sự 2005 có quy định về các khái niệm “Trở ngại khách quan”, “Không thực hiện được nghĩa vụ nhưng không bên nào có lỗi”  . Tuy vậy, khái niệm “Trở ngại khách quan” không đủ để làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến sự thay đổi của hoàn cảnh làm mất cân bằng lợi ích các bên trong hợp đồng, bởi vì khái niệm chỉ nêu đặc điểm rất chung và chưa cụ thể về “Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động”,  mà thiếu đi các dấu hiệu phụ trợ khác như “Xảy ra sau khi xác lập hợp đồng”, “Các bên không thể tính đến vào lúc ký hợp đồng”, “Không phải là rủi ro mà một bên phải gánh chịu hợp lý”, … Trong các căn cứ làm chấm dứt hợp đồng, đơn phương chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng được quy định tại các Điều 423, Điều 424, Điều 425, Điều 426, Điều 427 Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật dân sự 2005 không chứa đựng quy định nào điều chỉnh về việc sửa đổi hay chấm dứt hợp đồng do “Trở ngại khách quan”. Thêm nữa, nội dung của điều luật quy định về “Trở ngại khách quan” là một phần rất nhỏ trong các quy định riêng lẻ ở Chương IX của Bộ luật dân sự 2005 quy định về thời hiệu khởi kiện. Với nội dung, vị trí, vai trò vừa nêu, khái niệm ‘Trở ngại khách quan’ khó có thể được sử dụng giống như khái niệm “Hoàn cảnh thay đổi” để làm căn cứ cho việc đàm phán lại hợp đồng.

Trong một số luật chuyên ngành, có đề cập đến vấn đề điều chỉnh về một hoặc một số nội dung của hợp đồng khi có “Sự kiện khách quan” có tính chất tương tự “Hoàn cảnh thay đổi”. Trong Luật Đấu thầu 2005, các bên được phép thỏa thuận điều chỉnh về giá hợp đồng đối với các hợp đồng “trọn gói” - nhà thầu giao công trình xây dựng và nhận tiền, chủ đầu tư nhận công trình xây dựng và giao tiền - khi có sự thay đổi về “Chính sách của Nhà nước về thuế, tiền lương”, “Khối lượng, số lượng tăng hoặc giảm trong quá trình thực hiện hợp đồng nhưng trong phạm vi của hồ sơ mời thầu và không do lỗi của nhà thầu gây ra”, dẫn đến hệ quả là “Giá vật liệu xây dựng biến động ngoài khả năng kiểm soát của chủ đầu tư và nhà thầu” . 

3.2. Bộ luật dân sự 2015 
Việc ghi nhận điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng vào pháp luật Việt Nam, cụ thể là quy đinh tại Điều 420 Bộ luật dân sự 2015, là kết quả của tiến trình cải cách tư pháp nói chung, hứa hẹn sự ưu việt của pháp luật Việt Nam trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng giai đoạn tới; nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức mới trong việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do“Hoàn cảnh thay đổi”  của cộng đồng quốc tế và của một số các quốc gia nhằm xác định, chọn lọc những quan điểm tiến bộ, có tính ứng dụng cao, có vai trò tích cực đối với việc tiếp thu, sửa đổi, bổ sung các quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” trong pháp luật Việt Nam hiện hành.

Xem xét  nội dung quy định về thực hiện hợp đòng khi có hoàn cảnh thay đổi trong pháp luật Việt Nam, Khoản 1 Điều 420 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

1. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.”

Có thể thấy, nội dung cơ bản của quy định không có nhiều điểm tương đồng với điều khoản ‘Hardship” của pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, những điều kiện của hoàn cảnh cơ bản được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 420 mặc dù liệt kê cụ thể các yếu tố cơ bản để điều khoản này được áp dụng xem xét giải quyết, đó là sự xuất hiện của các sự kiện khách quan ngoài ý chí và ngoài sự dự liệu của các bên, sau khi xác lập hợp đồng, mà hậu quả của nó là làm thay đổi cơ bản sự cân bằng về lợi ích giữa các bên trong hợp đồng,  nhưng rõ ràng quy định này vẫn chưa làm rõ được đặc trưng  của điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do”Hoàn cảnh thay đổi” - có thể phân biệt điều khoản này với các trường hợp miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng khác.

Khoản 2 Điều 420 quy định như sau: “Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý”. Thực tế, không thể phủ nhận rằng thời hạn hợp lý theo tư duy pháp lý của mỗi hệ thống pháp luật, mỗi nhà lập pháp, thậm chí là quan điểm của từng học giả không giống nhau. Nghĩa là tuy Bộ luật dân sự 2015 đã có quy định về quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng trong trường hợp “Hoàn cảnh thay đổi” nhưng lại thiếu sót khi chưa quy định “Thời hạn yêu cầu đàm phán lại hợp đồng”, “Thời hạn hợp lý để đàm phán hợp đồng” cụ thể.

Điểm tương đồng với pháp luật quốc tế và một số quốc gia trên thế giới chính là việc pháp luật Việt Nam trao quyền quyết định chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi nôi dung hợp đồng cho Tòa án, khi các bên không thể đàm phán và thống nhất thỏa thuận sau thời hạn hợp lý. Bên cạnh đó, việc chấm dứt hay sửa đổi hợp đồng không được phép thực hiện tùy tiện, mà phải được cân nhắc trên tiêu chí thiệt hại lợi ích kinh tế giữa các bên nhằm tối thiểu hóa thiệt hại xảy ra nhưng vẫn cân bằng được lợi ích của các bên tham gia hợp đồng.

4. Kiến nghị
Thực tiễn xét xử ngày càng chứng kiến nhiều tranh chấp hợp đồng do “Hoàn cảnh thay đổi” xuất phát từ nhu cầu thiết lập các hợp dài hạn; hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, xuất hiện nhiều ngành nghề, hàng hóa mới; sự thay đổi thất thường của thiên nhiên, công nghệ, sự mất giá của đồng tiền; sự can thiệp của nhà nước về thuế, tiêu chuẩn kĩ thuật, chính sách ngoại thương;…  Rất nhiều sự kiện khách quan có thể gây ra những tổn thất lợi ích nghiêm trọng cho các bên, hoặc làm cản trở việc thực hiện hợp đồng, làm tăng các nguy cơ gây ra tổn thất cũng như các rủi ro cho các bên giao kết hợp đồng. Từ đó, vấn đề xử lý rủi ro do thay đổi hoàn cảnh trong quan hệ hợp đồng là nhu cầu cần thiết, đặc biệt là trong các hợp đồng dài hạn có liên hệ mật thiết tới điều kiện tự nhiên như đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, thu hoạch từ sản xuất nông lâm nghiệp (hoa, trái, rau, củ, tôm, cá, cà-phê, bông vải…). Tuy nhiên, cách giải quyết giữa các tòa án là chưa nhất quán, và điều khoản này cũng chưa được hướng dẫn áp dụng triệt để nhằm đảm bảo quy định về điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng trở thành một trong những căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp loại này. Bên cạnh những  phân tích nhằm chỉ ra sự thiếu thuyết phục về nội dung quy định “thực hiện hợp đồng khi có hoàn cảnh thay đổi cơ bản” khi đặt dưới góc độ so sánh với quy định  về “Hardship” của cộng đồng quốc tế, quy định tại Điều 420 được kiến nghị cần phải bồ sung thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng của Trọng tài thương mại khi có “Hoàn cảnh thay đổi”, đặc biệt là trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài.

Đồng thời, trước khi pháp luật thiết lập một cơ chế toàn diện bảo hộ những cá nhân, tổ chức tham gia hợp đồng cần tự bổ sung một cơ chế pháp lý như một điều khoản của hợp đồng cho phép các bên tham gia hợp đồng tái thiết lập sự cân bằng khi có “Hoàn cảnh thay đổi” ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của một bên. Thực tiễn thương mại quốc tế đã chỉ ra có đa dạng mẫu điều khoản loại này đã được soạn thảo với nội dung cơ bản là để quy định về khái niệm “Hoàn cảnh thay đổi”, điều kiện áp dụng (có sự thay đổi hoàn cảnh ngoài ý muốn, dẫn đến việc thực hiện hợp đồng sau này trở nên đặc biệt khó khăn và tốn kém, làm tăng chi phí rất lớn đối với bên phải thực hiện hợp đồng, hoặc làm giảm thu nhập nghiêm trọng cho bên kia, và làm mất cân bằng lợi ích của các bên tham gia); đồng thời quy định về cách thức giải quyết hậu quả của “Hoàn cảnh thay đổi” hay “Hardship”, phương thức giải quyết tranh chấp khi các bên không thể thương lượng để thay đổi nội dung của hợp đồng.  Đây là những bài học quý báu giúp cho các thương gia Việt Nam có thêm kinh nghiệm trong việc ký kết, thực hiện các hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng thương mại quốc tế./.

THÔNG TIN NGƯỜI VIẾT
Họ và tên: LÊ ĐINH BẢO TRÂM
Đơn vị công tác: Giảng viên Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại TP.Hồ Chí Minh
Địa chỉ: 24/2 Đinh Tiên Hoàng, phường Đakao, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh
Số điện thoại liên hệ: 0986313355 

TÓM TẮT BÀI VIẾT
Bài viết làm rõ sự khác nhau trong quy định giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về điều khoản loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng do “hoàn cảnh thay đổi”, đồng thời, chỉ ra thiếu sót trong quy định của pháp luật Việt Nam (cụ thể là Điều 420 Bộ Luật Dân sự 2015) và đưa ra quan điểm cá nhân về vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng. Quy định rõ ràng về điều khoản “hoàn cảnh thay đổi” cũng như các điều khoản quy định cơ chế đàm phán lại hợp đồng trong trường hợp có “hoàn cảnh thay đổi’ đóng vai trò quan trọng không những trong việc đảm bảo sự cân bằng lợi ích cho các chủ thể hợp đồng thương mại hàng hóa quốc tế, mà còn thúc đẩy đầu từ dài hạn vào Việt Nam thời gian sắp đến.

The article, is being presented in belief if there is a greater awareness and understanding of the relatively arcane doctrine of Hardship in Contracts in order to find out the drawbacks in the current provisions related to Hardship Clause in legal framework of Vietnam (Article 420 Civil Code No.91/2015/QH13; then, aims to suggest the solutions that consequently improve the quality of practising. It cannot be denied that well-drafted hardship and adjustment clauses promote the goal of stability of the contracts for investor and host countries as well as encourage long term investment in Vietnam in the future.

TỪ KHÓA
Điều 420 Bộ Luật Dân sự 2015
Thực hiện hợp đồng
Hoàn cảnh thay đổi
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Điều khoản bất khả kháng
Trường hợp bất khả kháng
Miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng
Vi phạm hợp đồng
Loại trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng
Hợp đồng
Hợp đồng dài hạn
Đàm phán lại hợp đồng
Đặc biệt khó khăn, tốn kém
Chế định miễn trách nhiệm hợp đồng/ miễn trách nhiệm vi phạm hợp đồng
 

Tin khác

Những khó khăn của cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại Tình dục trẻ em

Những khó khăn của cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại Tình dục trẻ em

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/12/2015 đến ngày 30/6/2018, trên phạm vi cả nước Cơ quan điều tra đã thụ lý giải quyết 4.344 tố giác, tin báo về tội xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE); khởi tố 2.8343 bị can/3.139 vụ; không khởi tố 612 vụ việc. So với những loại tội khác, tội XHTDTE ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp, tuy nhiên để đưa được người phạm tội ra trước ánh sáng công lý gặp rất nhiều khó khăn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến những khó khăn của các quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết loại án này

07/01/2019

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

25/12/2018

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

16/11/2018

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

16/11/2018

Địa chỉ: Đường 449, Khu phố 2, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9 - Tp. HCM.

Số điện thoại: 028-38960122

E-mail: banbientap@tkshcm.edu.vn