Những vấn đề cần chú ý khi kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

18/07/2017

  • Lượt xem: 1291

LÊ VĂN HẢO - Nghiên cứu sinh, Thạc Sĩ, Trưởng Khoa Quan hệ quốc tế Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại Thành phố Hồ Chí Minh

Theo quy định pháp luật, Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính là nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật, điều này đồng nghĩa với việc đảm bảo cho các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án được thực hiện theo đúng pháp luật. Hoạt động của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát giải quyết vụ án hành chính là người phải chứng minh và phải thể hiện cho đương sự thấy được vai trò, trách của Viện kiểm sát thực sự nhuw một người gác cổng tố tụng nhằm đảm bảo cho đương sự được thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình từ đó uy thế của ngành Kiểm sát sẽ được khẳng định./.

Công tác kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính nói riêng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế về nhận thức pháp luật; về vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên (KSV); về kỹ năng hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính. Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân một số KSV nhận thức chưa đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát (VKS) và của KSV khi thực hiện chức năng nhiệm vụ trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính (nhất là KSV cấp sơ thẩm) nên không thấy được vi phạm tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử (HĐXX).

Nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính theo yêu cầu cải cách tư pháp và Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 đúng quy định của pháp luật và góp phần nâng cao vị thế vai trò của KSV khi tham gia phiên tòa. Trong bài viết này tác giả đề cập đến một số yêu cầu về ký năng nghiệp vụ đối với KSV, KVS cần phải nắm vững và thực hiện tốt các yêu cầu về kỹ năng nghiệp vụ sau đây:

1. Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hành chính

1.1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án

Thứ nhất, xem xét việc thực hiện các thủ tục tố tụng của Toà án:

Khi nhận được các văn bản tố tụng KSV phải nghiên cứu kỹ thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (nếu có), quyết định trưng cầu giám định (nếu có), xem xét hình thức, nội dung trong từng văn bản như ngày, tháng, năm ban hành, dấu, chữ ký của người có thẩm quyền ban hành các vấn đề tố tụng như: Thời hạn giải quyết vụ án, thủ tục lấy lời khai của các đương sự… có vi phạm tố tụng hay không nếu có vi phạm thì phải thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Toà án khắc phục, sửa chữa (theo quy định tại khoản 1, Điều 76 luật TTHC năm 2015.

Luật TTHC năm 2015 đã xác định “Đối thoại trong tố tụng hành chính” là một trong những nguyên tắc cơ bản, vì vậy: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này.” (Điều 20 Luật TTHC)

Thứ hai, xem xét tổng thể toàn bộ nội dung vụ án:

Kiểm sát viên cần xác định tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện. Việc xác định tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện và được đặt ra ngay khi kiểm sát thụ lý, kiểm sát lập hồ sơ vụ án của Tòa án và trở thành nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình tố tụng. Tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện được thể hiện ở các điểm:

+ Tư cách pháp lý của người khởi kiện, người đại diện, người được đương sự uỷ quyền tham gia tố tụng;

+ Thủ tục, điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 30, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 Luật TTHC; các quy định của Luật khiếu nại, Luật Tố cáo hoặc các tài liệu chứng minh cho việc đương sự đã khiếu nại nhưng không được người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trả lời, biên lai nộp dự phí, án phí và các tài liệu liệu đương sự nộp cùng đơn khởi kiện;

+ Thời hiệu khởi kiện: có được thực hiện theo quy định theo quy định tại Điều 116 Luật TTHC không?

Xác định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện, cụ thể:

+ Đối với quyết định hành chính bị khởi kiện, KSV phải nghiên cứu chi tiết ngày, tháng, năm ban hành, thẩm quyền ký quyết định, con dấu, chữ ký của người có thẩm quyền đối chiếu với các quy định của pháp luật để xem xét văn bản đó có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?

+ Đối với hành vi hành chính bị khởi kiện, KSV phải nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ công vụ của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đang bị khởi kiện, để xác định hành vi hành chính đang bị khởi kiện có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?

- Xác định nội dung tranh chấp, quan hệ tranh chấp, nội dung yêu cầu của những người tham gia tố tụng khác, xác định tính hợp pháp, tính có căn cứ của các yêu cầu này. Việc xác định nội dung quan hệ tranh chấp cũng đồng thời với việc xác định tư cách của người khởi kiện, người bị kiện, người đại diện, người được uỷ quyền hoặc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Thứ ba, đánh giá chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án

- Kiểm sát viên phải kiểm tra kỹ lưỡng từng loại nguồn chứng cứ và xác định nguồn chứng cứ, trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật (nghĩa là nguồn chứng cứ và chứng cứ phải được thu thập theo quy định tại các điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92 của Luật TTHC, đây là khâu công tác hết sức quan trọng và dễ bị sai sót mà KSV cấp sơ thẩm thường hay mắc phải do thiếu kinh nghiệm hoặc do nhận thức chưa đúng về tính chất và tầm quan trọng của khâu công tác này.

- Xác định chứng cứ có trong hồ sơ đã đầy đủ để chứng minh cho cho yêu cầu của các đương sự tham gia vụ kiện chưa?

- Đối chiếu, phân tích các tài liệu, chứng cứ để làm rõ rõ sự thật khách quan, bản chất trong quan điểm của từng đương sự và bản chất của mâu thuẫn trong nội dung vụ án cần được giải quyết.

- Tập hợp, chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh để có quan điểm đúng về việc giải quyết vụ án.

Thứ tư, làm rõ các vấn đề về áp dụng pháp luật

- Xem xét nguyên nhân dẫn đến việc cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ra quyết định hành chính (họăc thực hiện hành vi hành chính) đang bị khởi kiện; quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện gây thiệt hại gì cho người khởi kiện; các văn bản pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ pháp luật đang có tranh chấp là những văn bản nào…

- Xác định yêu cầu khởi kiện có được chấp nhận hay không, chấp nhận những vấn đề gì.

- Đánh giá chứng cứ, xác định sự thật khách quan của yêu cầu khởi kiện trên cơ sở đối chiếu, phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nghiên cứu kỹ quan điểm của các chủ thể tham gia tố tụng (thông qua bản trình bày quan điểm của họ và các lời khai do Toà án lập) để từ đó làm rõ sự thật khách quan của quan hệ đang có tranh chấp, cũng như những mâu thuẫn trong các lời trình bày, lời khai của các đương sự, trên cơ sở đó chuẩn bị lý lẽ, căn cứ pháp lý để bảo vệ hoặc bác bỏ các tài liệu cũng như yêu cầu của các đương sự.

Thứ năm, xây dựng hồ sơ kiểm sát

Phải bao gồm các tài liệu phản ánh đầy đủ hoạt động tiến hành tố tụng của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và những người tham gia tố tụng khác, Viện kiểm sát nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ án của Toà án nhân dân và kết thúc khi KSV hoàn thành việc kiểm sát bản án, quyết định do Toà án cùng cấp gửi đến. Các tài liệu chứng cứ cần có trong hồ sơ kiểm sát là: Đơn khởi kiện của đương sự, biên lai thu dự phí án phí sơ thẩm, quyết định hành chính bị khởi kiện (nếu đương sự khởi kiện hành vi hành chính thì hành vi này phải được nêu trong đơn khởi kiện); Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai (nếu có), các tài liệu thể hiện việc đương sự đã khiếu nại nhưng không được giải quyết, các tài liệu, chứng cứ do người bị khởi kiện cung cấp nhằm bác lại yêu cầu khởi kiện cũng như các tài liệu chứng minh cho yêu cầu phản tố của họ, các tài liệu do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp…(những tài liệu chứng cứ này cần được phô tô); Trích lục những lời trình bày hoặc khai nhận của những người tham gia tố tụng khác, nhưng phải bảo đảm tính đầy đủ, khách quan, toàn diện.

Thứ sáu, chuẩn bị đề cương để tham gia hỏi tại phiên toà

- Kiểm sát viên phải chuẩn bị câu hỏi cho từng đương sự, từng vấn đề còn đang có mâu thuẫn, tranh chấp; có câu hỏi nhằm xác định giá trị chứng minh của tài liệu, có câu hỏi nhằm làm rõ sự thật khách quan của nội dung đang có tranh chấp.

- Câu hỏi mà KSV đưa ra phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu tập trung vào vấn đề cần làm sáng tỏ và phù hợp vào từng đối tượng được hỏi.

Thứ bảy, dự thảo quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát để trình bày tại phiên toà

Theo quy định quy định tại Điều 190 Luật TTHC, tại phiên tòa sơ thẩm: Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án...”

Như vậy, phát biểu của KSV tại phiên tòa sơ thẩm chỉ bị hạn chế đối với nhóm người tiến hành tố tụng (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân), còn đối với nhóm người tham gia tố tụng thì không bị hạn chế. Vì vậy, tại phiên tòa, KSV có thể vận dụng các quy định của pháp luật để hỏi các đương sự, người làm chứng, người phiên dịch…và kết hợp với việc nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi tham gia phiên tòa để phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát đối với đối tượng khởi kiện vụ án hành chính (quyết định hành chính, hành vi hành chính) và về tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, đề xuất quan điểm đường lối giải quyết vụ án.

 Dự thảo quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phải nêu được các vấn đề sau:

Loại việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại Điều 30 Luật TTHC?

Việc thụ lý và giải quyết vụ án của Toà án đã đúng với quy định tại các điều 31, 32 33 Luật TTHC chưa?

Người khởi kiện có phải là người bị thiệt hại do quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đang bị khởi kiện gây ra theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật TTHC không?

Đối tượng khởi kiện, điều kiện khởi kiện đã đầy đủ theo quy định tại Điều 115 Luật TTHC?

Thời hiệu khởi kiện còn hay hết theo quy định tại Điều 116 Luật TTHC?

- Dự thảo ý kiến được thông qua Lãnh đạo Viện trước khi KSV tham gia phiên toà.

2. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

Tại phiên tòa sơ thẩm KSV có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng hành chính. Cụ thể:

- Kiểm tra tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng. Trường hợp phát hiện thấy thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng theo quy định tại các điều 46, 47, 49 Luật TTHC thì phải yêu cầu Hội đồng xét xử quyết định thay đổi thành viên đó. Nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên về việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc Thư ký phiên toà và vẫn tiến hành xét xử thì ngay sau phiên toà, Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện cấp mình để xem xét việc kháng nghị, kiến nghị.

- Căn cứ các điều 157, 159, 160, 161 Luật TTHC, Kiểm sát viên kiểm tra tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trường hợp vụ án có sự tham gia của những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch mà họ vắng mặt thì Kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 162 Luật TTHC. Nếu Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên vẫn tiếp tục tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng ngay sau phiên toà phải báo cáo với Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình để xem xét việc kháng nghị, kiến nghị.

- Kiểm sát viên căn cứ quy định tại các điều 167, 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 187, 188, 191, 192, 194 và 195 Luật TTHC để kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên toà; các thủ tục: thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, hỏi tại phiên toà, tranh luận tại phiên toà, nghị án, tuyên án.

- Theo dõi và ghi chép diễn biến phiên toà: Kiểm sát viên cần chú ý theo dõi và ghi chép những câu hỏi của Hội đồng xét xử cũng như những câu trả lời của các đương sự, đối chiếu, so sánh với các tài liệu chứng cứ cũng như lời khai, lời trình bày của họ có trong hồ sơ vụ án, từ đó phát hiện những mâu thuẫn, vướng mắc để yêu cầu Hội đồng xét xử làm sáng rõ hoặc để trực tiếp hỏi sau khi Hội đồng xét xử hỏi xong.

- Kiểm sát viên tham gia hỏi: Căn cứ Điều 177 Luật TTHC thì kiểm sát viên tham gia hỏi các đương sự sau khi đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử kết thúc. Kiểm sát viên trực tiếp hỏi các đương sự, những người tham gia tố tụng các vấn đề chưa được hỏi đến và các vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Với những vấn đề mới phát sinh tại phiên toà, KSV phải hỏi nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vấn đề đó, đồng thời, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để đưa ra ngay quan điểm chấp nhận hay không chấp nhận một tài liệu, một chứng cứ hoặc một vấn đề.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải chủ động xử lý những tình tiết mới phát sinh, nếu tình tiết mới có đủ tài liệu căn cứ chứng minh không cần xác minh thêm thì phải có ý kiến phát biểu quan điểm giải quyết vụ án. Trường hợp có tình tiết mới nhưng chưa đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để thu thập chứng cứ bổ sung. 

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa: Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, theo đề nghị của Chủ toạ phiên toà, KSV phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất quan điểm giải quyết vụ án.

- Khi Chủ toạ phiên toà tuyên án, KSV cần chú ý nghe và ghi chép nhanh phần nhận định, những căn cứ pháp luật mà Hội đồng xét xử dựa vào đó để đưa ra quyết định giải quyết vụ án để có cơ sở cho hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Toà án sau phiên toà.

3. Hoạt động của Kiểm sát viên sau phiên tòa

- Báo cáo kết quả xét xử với Lãnh đạo Viện và Viện kiểm sát cấp trên. Nội dung báo cáo phải nêu tính có căn cứ, hợp pháp (hay không hợp pháp) của quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án được Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà.

- Nghiên cứu phần nhận định của Toà án trong bản án, quyết định xem có phù hợp với các tình tiết của vụ án hay không? Toà án áp dụng các văn bản pháp luật về nội dung để giải quyết vụ án đã phù hợp, đúng pháp luật chưa? đối chiếu phần quyết định trong bản án, quyết định với phần ghi chép của Kiểm sát viên cũng như ý kiến đề xuất về đường lối giải quyết vụ án của Viện kiểm sát tại phiên toà để phát hiện vi phạm. Đề xuất với Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (hoặc báo cáo Viện kiểm sát cấp trên xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm), chuẩn bị căn cứ pháp luật, dự thảo văn bản kháng nghị (trong trường hợp ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án không được Hội đồng xét xử chấp nhận./. 

Nguồn: Tapchikiemsat

Tin khác

Những khó khăn của cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại Tình dục trẻ em

Những khó khăn của cơ quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết các vụ án xâm hại Tình dục trẻ em

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/12/2015 đến ngày 30/6/2018, trên phạm vi cả nước Cơ quan điều tra đã thụ lý giải quyết 4.344 tố giác, tin báo về tội xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE); khởi tố 2.8343 bị can/3.139 vụ; không khởi tố 612 vụ việc. So với những loại tội khác, tội XHTDTE ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp, tuy nhiên để đưa được người phạm tội ra trước ánh sáng công lý gặp rất nhiều khó khăn. Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến những khó khăn của các quan tiến hành tố tụng thường gặp trong quá trình giải quyết loại án này

07/01/2019

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

Một số ý kiến trao đổi về trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định pháp luật Việt Nam

25/12/2018

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

Về việc Việt Nam có đảm bảo đầy đủ quyền tự do liên kết và quyền tổ chức theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) không? Các giải pháp bổ sung, nếu cần thiết?

16/11/2018

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

Vấn đề đánh giá của tiêu chuẩn lao động theo quy định của Bộ luật lao động về điều kiện lao động

16/11/2018

Tin tức

Địa chỉ: Đường 449, Khu phố 2, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9 - Tp. HCM.

Số điện thoại: 028-38960122

E-mail: banbientap@tkshcm.edu.vn