Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
(Phần 2)
ThS. Nguyễn Thị Miến
Giảng viên Khoa Dân sự – Hành chính và Kiểm sát hoạt động tư pháp
Thứ ba, Kiểm sát viên kiểm sát việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025), cụ thể như sau: Tòa án thực hiện việc tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau đây: Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế (Hai phương thức tống đạt này được thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp); theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này; theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài; đối với cơ quan, tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025); theo đường dịch vụ bưu chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở nước ngoài.
Trường hợp các phương thức tống đạt trên thực hiện không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 475 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025), việc thu thập chứng cứ của Tòa án ở nước ngoài được thực hiện theo một trong các phương thức sau đây: Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế; theo đường dịch vụ bưu chính yêu cầu đương sự là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài gửi giấy tờ, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Việt Nam.
Đối với việc tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng, Viện Kiểm sát kiểm sát việc Tòa án áp dụng đúng các phương thức tống đạt được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều này bao gồm cả tống đạt qua đường ngoại giao, đường dịch vụ qua bưu chính quốc tế hoặc thông qua cơ chế ủy thác tư pháp. Cần đặc biệt chú ý đến thời hạn tống đạt, bởi trong các vụ án có yếu tố nước ngoài, thời gian chuyển giao văn bản thường kéo dài. Việc tống đạt phải hợp lệ và không gây ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin của đương sự ở nước ngoài. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án xác minh địa chỉ của đương sự ở nước ngoài. Đây là khâu dễ xảy ra sai sót, dẫn đến tống đạt không hợp lệ, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và có thể làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Khi giải quyết vụ án, Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài, cụ thể như sau: “Người khởi kiện, người yêu cầu phải ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự đó. Trường hợp không ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ sung trong thời hạn do Tòa án ấn định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Trường hợp không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trả lời cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài hoặc sau 06 tháng mà không có trả lời thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu”[1].
Ngoài ra, trong vụ án ly hôn, người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thì Tòa án giải quyết như sau:
– Trường hợp qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân thích ở trong nước nhưng người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.
Trường hợp Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà người thân thích của họ không cung cấp địa chỉ của bị đơn cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án tiếp tục giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
– Sau khi xét xử, Tòa án gửi cho người thân thích của bị đơn bản sao bản án, quyết định để họ chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn và nơi người thân thích của bị đơn cư trú để đương sự có thể thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng[2].
Trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, Viện Kiểm sát kiểm sát việc Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, cũng như việc Tòa án chủ động thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự ở nước ngoài không thể tham gia tố tụng kịp thời. Việc này nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng và khách quan trong tố tụng.
Công tác kiểm sát cũng cần lưu ý đến tính hợp pháp của các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp từ nước ngoài. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây:
– Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam;
– Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được hợp pháp hóa lãnh sự;
– Giấy tờ, tài liệu do công dân Việt Nam ở nước ngoài lập bằng tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó và đã được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam[3].
Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án công nhận giấy tờ, tài liệu do cá nhân cư trú ở nước ngoài lập nếu các giấy tờ này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu pháp lý và thủ tục công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu này để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Ví dụ 1: Bản án số 433/2020/HNGĐ-ST ngày 31/03/2020 về ly hôn giữa nguyên đơn là ông Đỗ Ngọc V, sinh năm 1983. địa chỉ: đường T, Phường B, quận T, Thành phố H và bị đơn là bà Le Tatyana T, sinh năm 1973 Quốc tịch: Hoa Kỳ Địa chỉ: 2767 W.Algonquin RD, Algonquin, IL 60102, USA.
Nội dung vụ án: Ông Đỗ Ngọc V và bà Le Tatyana T tự nguyện kết hôn vào năm 2016, theo giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 04/02/2016 tại Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn, ông Đỗ Ngọc V và bà Le Tatyana T chung sống với nhau được khoảng 02 tháng. Trong thời gian chung sống, ông Đỗ Ngọc V và bà Le Tatyana T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và tính cách không hợp. Sau đó, bà Le Tatyana T quay trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc, bà Le Tatyana T cũng không làm thủ tục bảo lãnh ông sang Hoa Kỳ sống cùng với bà. Từ khi bà Le Tatyana T về Hoa Kỳ, ông Đỗ Ngọc V và bà Le Tatyana T không còn liên lạc với nhau, cũng không còn chung sống với nhau. Ông Đỗ Ngọc V và bà Le Tatyana T không có thời gian cùng nhau nói chuyện và hàn gắn tình cảm nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay ông Đỗ Ngọc V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông làm đơn gửi Tòa án nhân dân Thành phố H yêu cầu ly hôn với bà Le Tatyana T để có điều kiện ổn định cuộc sống.
Con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Le Tatyana T được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thủ tục tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và ngày, giờ mở phiên tòa nhưng việc tống đạt này không thực hiện được vì không có người nhận tại địa chỉ được yêu cầu. Sau đó, Tòa án nhân dân Thành phố H đã thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có kết quả. Như vậy, Tòa án nhân dân Thành phố H đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp cho bà Le Tatyana T theo quy định pháp luật nhưng việc tống đạt không thành. Do đó Tòa án tiến hành thủ tục đăng Thông báo về việc giải quyết vụ án ly hôn giữa ông Đỗ Ngọc V và bà Le Tatyana T trên Cổng thông tin điện tử và đồng thời niêm yết tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Cơ quan trên đã thực hiện các công việc theo yêu cầu của Tòa án nhưng bà Le Tatyana T không có văn bản trả lời và vắng mặt không rõ lý do. Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bà Le Tatyana T.
Ví dụ 2: Bản án số 930/2020/HNGĐ-ST ngày 06/07/2020 về ly hôn giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1976 Địa chỉ: đường T, phường H, quận P, Thành phố H và bị đơn là ông S Steven, sinh năm 1961 Địa chỉ: CA 91731, USA. Địa chỉ liên hệ: CA 91770, USA
Nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Mỹ T và ông S Steven kết hôn hợp pháp vào năm 2014, được Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 29/5/2014, và được ghi vào sổ đăng ký kết hôn số 157, quyển số 01, ngày 05/6/2014. Sau khi kết hôn, ông S Steven trở về nước nên vợ chồng chỉ liên lạc qua mạng xã hội và tin nhắn điện thoại. Thời gian gần đây, ông S Steven thường xuyên ghen tuôn vô cớ, xúc phạm danh dự nhân phầm bà T trên tin nhắn và trang mạng xã hội. Mặc khác, nhiều lần về Việt Nam, ông S Steven còn có người phụ nữ khác. Bà T đã nhiều lần tạo điều kiện hàn gắn để vợ chồng có thể đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nhận thấy mâu thuẫn của hai vợ chồng kéo dài không thể hàn gắn, tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T đề nghị Toà án cho bà được ly hôn với ông S Steven.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn ông S Steven đã được Tòa án ủy thác tư pháp để tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mở phiên tòa xét xử vụ án theo các địa chỉ của ông nhưng Tòa án vẫn không nhận được văn bản ghi ý kiến của ông. Căn cứ các Văn bản số 2117/BTP-PLQT ngày 27/5/2016, số 2460/BTP-PLQT ngày 06/8/2019, số 222/BTP-PLQT ngày 14/02/2020 của Bộ Tư pháp, Tòa án đã thông báo và tống đạt hợp lệ cho ông S Steven nhưng ông không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ T.
Căn cứ theo địa chỉ cư trú của ông S Steven được ghi trong Giấy chứng nhận kết hôn và theo địa chỉ do Cơ quan có thẩm quyền của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ cung cấp, thông qua Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân Thành phố H đã ba lần tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (theo Văn bản số 2117/BTP-PLQT ngày 27/5/2016, số 2460/BTP-PLQT ngày 06/8/2019, số 222/BTP-PLQT ngày 14/02/2020 của Bộ Tư pháp) để yêu cầu ông S Steven có ý kiến và cung cấp chứng cứ về đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mỹ T, nhưng Tòa án nhân dân Thành phố H vẫn chưa nhận được trả lời của ông S Steven. Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt ông S Steven.
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác[4]. Công tác kiểm sát trong quá trình giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Việt Nam và người nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời nâng cao chất lượng giải quyết án, bảo đảm tính minh bạch, khách quan và phù hợp với pháp luật quốc tế.
Thứ tư, kiểm sát việc Tòa án áp dụng đúng quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời tôn trọng các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Cần lưu ý việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định như sau:
“Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định khác. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó;
Trong trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam;
Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng”[5].
Ví dụ: Bản án số 165/2021/HNGĐ-ST ngày 30/09/2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa nguyên đơn là chị Đặng Thị L, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu A, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh HD và bị đơn là anh S, sinh năm 1971, quốc tịch: Thái Lan, địa chỉ: số 48, làng số 1, Huyện Đ, quận M, tỉnh Phichit, Thái Lan.
Nội dung vụ án: Chị Đặng Thị L và anh S cùng làm việc tại Thành phố Hồ chí Minh, được tự do tìm hiểu từ năm 2011. Đến ngày 31/8/2012, anh chị đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, anh S hết hợp đồng lao động tại Việt Nam nên phải về Thái Lan. Từ khi về Thái Lan đến nay, anh S chưa sang Việt Nam thăm vợ, con lần nào, hai bên chấm dứt liên lạc từ năm 2014. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh S theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng chị có 1 con chung là Ch, sinh ngày 18/6/2012 và ở với chị, hiện tại con chung bị bệnh tự kỷ, không biết nói, không phát triển nhận thức. Nay chị có nguyện vọng được nuôi con, tự nguyện không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh HD đã ủy thác tư pháp cho Bộ tư pháp để thực hiện tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi Tòa án nhân dân tỉnh HD có Quyết định đưa vụ án xét xử, ngày 14/8/2021, Tòa án đã nhận được Công văn số 2280/BTP-PLQT ngày 09/8/2021 của Bộ Tư Pháp thể hiện nội dung Cơ quan có thẩm quyền của Thái Lan không thực hiện được ủy thác tư pháp cho anh S, do không có người nhận tại địa chỉ được yêu cầu. Tòa án nhân dân tỉnh HD đã tiến hành thông báo các văn bản của Tòa án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh HD và cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan. Tuy nhiên, hết thời hạn 1 tháng anh Sane Chanthra vẫn không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án đã xét xử vắng mặt anh S.
Tòa án căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 153; khoản 1 Điều 228; điểm c khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
– Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị L ly hôn anh S.
– Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Ch, sinh ngày 18/6/2012 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng cho con.
Không ai được cản trở anh S thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
– Về án phí, về chi phí ủy thác tư pháp, về chi phí thực tế ủy thác tư pháp: Chị Đặng Thị L phải chịu chi phí theo quy định của pháp luật.
– Về quyền kháng cáo: Chị Đặng Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Anh S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật Việt Nam làm căn cứ để xem xét và quyết định các vấn đề của vụ án, trừ những trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định khác hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Việc áp dụng pháp luật Việt Nam bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, đặc biệt đối với các vấn đề như điều kiện ly hôn, quyền nuôi con, cấp dưỡng và phân chia tài sản chung. Trong trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[6].
Tóm lại, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng về cả pháp luật trong nước và quốc tế, cũng như tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ Kiểm sát viên. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp thể hiện vai trò của Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế[7].
Danh mục tài liệu tham khảo
Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025);
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình;
Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về thực hiện nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
Bản án số 433/2020/HNGĐ-ST ngày 31/03/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố H;
Bản án số 930/2020/HNGĐ-ST ngày 06/07/2020 của Tòa án nhân dân Thành phố H;
Bản án số 165/2021/HNGĐ-ST ngày 30/09/2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con của Tòa án nhân dân tỉnh HD;
Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 30/08/2025 về ly hôn có yếu tố nước ngoài của Tòa án nhân dân tỉnh TQ
[1] Điều 473 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025).
[2] Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình.
[3] Khoản 2 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025).
[4] Khoản 2 Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[6] Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Khoản 3 Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.