Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát việc giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật khi vi phạm về độ tuổi

                                                                                       ThS. Nguyễn Thị Miến
Giảng viên Khoa Dân sự – Hành chính và Kiểm sát hoạt động tư pháp

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn [1]. Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 [2].

Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em. Nội dung này đã được khẳng định tại Điều 36 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 21/7/2025). Tuy nhiên, việc kết hôn phải tuân thủ các điều kiện về kết hôn. Một trong những điều kiện về kết hôn là độ tuổi kết hôn. Nhằm đảm bảo rằng các cá nhân đủ trưởng thành về mặt tâm lý, thể chất và có khả năng chịu trách nhiệm trong hôn nhân, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các thời kỳ đã có những quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn của nam và nữ, tránh tình trạng kết hôn quá sớm, khi chưa đủ khả năng làm vợ, làm chồng hay làm cha mẹ, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và duy trì trật tự xã hội.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đều có quy định cụ thể về độ tuổi kết hôn là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên, thể hiện sự thống nhất và ổn định của chính sách pháp luật. Đến quy định hiện hành tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi. Sự điều chỉnh qua các giai đoạn cho thấy quá trình hoàn thiện pháp luật, trong đó pháp luật ngày càng chú trọng sự trưởng thành về thể chất, tâm lý và đảm bảo bình đẳng giới trong hôn nhân. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới [3].

Quy định về độ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình phù hợp với  khái niệm người thành niên được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005 và năm 2015. Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có khả năng tự mình xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Trong đó, ngưỡng 18 tuổi theo Bộ luật Dân sự là tiêu chí cơ bản để xác định năng lực pháp lý của người tham gia các quan hệ dân sự, đồng thời là chuẩn mực tối thiểu để bảo đảm tính tự nguyện, trách nhiệm và khả năng chịu hậu quả pháp lý của việc kết hôn. Ngoài ra, Điều 27 và Điều 29 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 21/7/2025) cũng quy định công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. Việc đồng bộ trong hệ thống pháp luật giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cá nhân, hạn chế tình trạng tảo hôn và đảm bảo sự ổn định của quan hệ hôn nhân trong xã hội.

 Khi kiểm sát việc giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật khi vi phạm về độ tuổi kết hôn, Kiểm sát viên cần lưu ý một số nội dung sau:

Thứ nhất, Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án có căn cứ vào độ tuổi kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật. Cần lưu ý về việc xác định độ tuổi: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là trường hợp nam đã “đủ” hai mươi tuổi, nữ đã “đủ” mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh. Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:

– Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;

– Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.

Ví dụ: Chị B sinh ngày 10/01/1997, đến ngày 08/01/2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10/01/2015), như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật Hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực (ngày 01/01/2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình [4].

Ngoài ra, Kiểm sát viên cần kiểm sát việc Tòa án xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn” quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình [5].

Thứ hai, Kiểm sát viên trong quá trinh kiểm sát cần chú ý những trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định về độ tuổi kết hôn, cụ thể như sau:

– Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

– Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

– Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

– Hội liên hiệp phụ nữ[6].

Thứ ba, Kiểm sát viên kiểm sát về việc Tòa án xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trong quá trình Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình để quyết định.

– Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

+ Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.

Ví dụ: Anh A sinh ngày 25/01/1996, chị B sinh ngày 10/01/1995. Ngày 08/01/2015, anh A và chị B đăng ký kết hôn. Ngày 25/9/2016, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tại phiên họp, anh A và chị B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từ thời điểm cả anh A và chị B đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 25/01/2016.

+ Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.

– Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình thì thực hiện như sau:

+ Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

+ Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Trường hợp Tòa án quyết định theo hướng dẫn tại trường hợp này thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

– Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không. Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm giải quyết. Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc thì vẫn xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác” [7].

Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 [8].

Ví dụ: Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 27/9/2024 về hủy kết hôn trái pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh LC giữa nguyên đơn là anh Tẩn Chỉn Q, sinh năm: 1984, địa chỉ: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh LC và bị đơn là chị Lù Thị N (tên gọi khác: Lù Xạ X), sinh năm: 1986, địa chỉ: Bản T, xã M, huyện P, tỉnh LC; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh LC, đại diện theo pháp luật: ông Tẩn Chỉn H – Chức vụ: Chủ tịch.

Nội dung vụ án: Anh Tẩn Chỉn Q và chị Lù Thị N (tên gọi khác: Lù Xạ X) có đăng ký kết hôn vào ngày 28/01/2002 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh LC. Việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình chung sống, thời gian ban đầu vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chị N ghen tuông vô cớ dẫn đến thường xuyên cãi vã trong cuộc sống. Đến đầu năm 2023, anh và chị N sống ly thân mỗi người một nơi, anh chị không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Tại thời điểm kết hôn với chị N, do nhận thức pháp luật còn hạn chế, anh chị lại không có giấy tờ tùy thân nào khác cung cấp cho xã, cán bộ làm thủ tục đăng ký kết hôn cũng không yêu cầu anh chị cung cấp và cũng chỉ dựa vào lời trình bày của anh chị, chị N lại không nhớ chính xác năm sinh nên chị N khai tăng số tuổi lên để đủ tuổi kết hôn theo quy định. Sau này, khi anh đi làm lại căn cước công dân và trên cơ sở các giấy tờ tùy thân khác, cũng như lời khai của bố mẹ, anh mới phát hiện khi anh kết hôn với chị N, anh chưa đủ 20 tuổi và chị N cũng chưa đủ 18 tuổi (tại thời điểm kết hôn chị N mới được 15 tuổi 07 tháng 04 ngày; anh Q mới được 17 tuổi 11 tháng 02 ngày), nên chưa đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không còn chung sống với nhau và đã ly thân từ năm đầu năm 2023 cho đến nay, nên anh xin được ly hôn với chị N và yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật.

Về con chung: Anh Q và chị N có 02 con chung, là cháu Tẩn Minh C, sinh ngày 23/01/2006 và cháu Tẩn Thị N1, sinh ngày 29/11/2011. Sau khi ly hôn, anh Q nhất trí giao cháu N1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh và chị N sẽ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu C đã đủ 18 tuổi và đã đi làm nên anh không ý kiến gì.

Theo xác nhận thông tin về cư trú, vợ của anh T Chỉn Quang có tên là Lù Thị N, tuy nhiên theo giấy đăng ký kết hôn mà anh Q cung cấp thì người trong giấy đăng ký kết hôn với anh Q là chị Lù Xạ X. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh lý lịch chị N qua bố đẻ của anh Tẩn Chỉn Q; UBND xã M xác định: chị Lù Xạ X, sinh ngày 15/3/1983 và chị Lù Thị N, sinh ngày 24/5/1986 là cùng một người, tên gọi và ngày sinh chính xác là Lù Thị N, sinh ngày 24/5/1986; địa chỉ ghi trong giấy đăng ký kết hôn của anh Q và trong căn cước công dân của anh Q thì bản “Thèn Xin” và bản “Thèn Sin” là cùng một địa chỉ, nguyên nhân do thời gian trước tên bản được điều chỉnh, hiện tại, địa chỉ này có tên chính xác là bản Thèn Xin.

Nhận định của Tòa án:

Về quan hệ hôn nhân: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Tẩn Chỉn Q về việc xin ly hôn và yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật: Ngày 28/01/2002 anh Tẩn Chỉn Q và chị Lù Thị N có đến UBND xã M để thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định. Anh Q và chị N tự khai và không xuất trình thêm giấy tờ gì khác. Sau đó, anh Q và chị N đã điền thông tin vào tờ khai đăng ký kết hôn, trong đó chị N khai tên là Lù Xạ X, sinh ngày 15/3/1983, anh Q sinh ngày 26/02/1984 và đã cam đoan những lời khai, thông tin khai là đúng sự thật nên Ủy ban nhân dân xã M đã thực hiện việc đăng ký kết hôn cho anh Q và chị N và cấp giấy chứng nhận kết hôn số 39/2002, ngày 28/01/2002. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do anh Q cung cấp cho Tòa án như: Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã M cung cấp; giấy xác nhận thông tin nơi cư trú của anh Tẩn Chỉn Q và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì chị Lù Thị N còn có tên gọi khác là Lù Xạ X, sinh ngày 24/5/1986. Vì vậy, tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 28/01/2002 chị N mới 15 tuổi 07 tháng 04 ngày và anh T Chỉn Quang mới có 17 tuổi 11 tháng 02 ngày, cả 2 anh chị đều chưa đủ tuổi kết hôn, thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Quá trình chung sống giữa anh Q và chị N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, anh chị ly thân đã lâu, không còn chung sống cùng nhà và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Vì vậy, Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Q và chị N (tên khác Lù Xạ X) là phù hợp với Điều 10, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; và điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp.

Về hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật: Khi việc hủy kết hôn trái pháp luật bị hủy thì không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Tẩn Chỉn Q và chị Lù Thị N.

Về nuôi con: Xét về điều kiện, hoàn cảnh, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ và bản thân cháu N1 cũng có nguyện vọng muốn được ở cùng mẹ, giao cháu Tẩn Thị N1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Còn cháu C hiện nay đã đủ 18 tuổi và anh Q không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã M: Ủy ban nhân dân xã đã thực hiện việc đăng ký kết hôn cho anh Q và chị N không đúng quy định của pháp luật. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị N và anh Q đều chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn do pháp luật quy định; chị N đã khai không thành thật ngày, tháng, năm sinh của mình, khai tăng số tuổi lên để được đăng ký kết hôn; Ủy ban nhân dân xã M cũng tắc trách, không chặt chẽ và chưa làm hết trách nhiệm của mình khi không yêu cầu anh Q, chị N cung cấp tài liệu, giấy tờ tùy thân để chứng minh nhân dân và độ tuổi đã đủ điều kiện để đăng ký kết hôn hay chưa. Do đó, có đủ căn cứ xác định cả chị N và Ủy ban nhân dân xã M đều có lỗi trong việc đã đồng ý đăng ký kết hôn cho anh Q và chị N là vi phạm pháp luật, cần rút kinh nghiệm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân xã M cũng có ý kiến nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh Q về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 39/2002 ngày 28/01/2002 của Ủy ban nhân dân xã M cấp là phù hợp và có căn cứ cần chấp nhận. Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh LC thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Tẩn Chỉn Q và chị Lù Thị N (tên gọi khác: Lù Xạ X) theo quy định của pháp luật.

Tóm lại, quyền kết hôn là quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình. Kết hôn phải tuân thủ về điều kiện kết hôn, trong đó có điều kiện về độ tuổi. Độ tuổi kết hôn là một trong những điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm sự trưởng thành về thể chất, tâm lý và nhận thức của các bên khi bước vào hôn nhân. Quy định này không chỉ góp phần hạn chế tình trạng tảo hôn, bảo vệ sức khỏe sinh sản và quyền lợi của người chưa thành niên, mà còn tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng gia đình ổn định, bền vững. Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 [9]. Việc tuân thủ đúng quy định về độ tuổi kết hôn không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là yếu tố thiết yếu để bảo vệ lợi ích chung của cá nhân, gia đình và xã hội. Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc [10].

Danh mục tài liệu tham khảo

Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 21/7/2025);

Bộ luật Dân sự năm 1995;

Bộ luật Dân sự năm 2005;

Bộ luật Dân sự năm 2015;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;

Bản án số 49/2024/HNGĐ-ST ngày 27/9/2024 về hủy kết hôn trái pháp luật của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh LC.

[1] Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Khoản 6 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

[3] Khoản 1 Điều 26 Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 21/7/2025).

[4] Khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch Số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Khoản 5 Điều 2 Thông tư liên tịch Số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Khoản 2 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7] Điều 4 Thông tư liên tịch Số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[8] Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[9] Khoản 8 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[10] Khoản 1 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.