Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất – Lý luận và thực tiễn
ThS. Phan Thị Thanh
Giảng viên Phân hiệu Trường Đại học Kiểm sát tại Tp. HCM
1. Đặt vấn đề
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là một trong những dạng tranh chấp dân sự phổ biến và phức tạp hiện nay. Không chỉ đơn thuần là xung đột về quyền và lợi ích kinh tế, loại tranh chấp này còn hàm chứa những yếu tố văn hóa, tâm lý và đạo đức xã hội sâu sắc.
Đất đai thường gắn liền với lịch sử hình thành gia đình, công sức tích lũy qua nhiều thế hệ và giá trị tinh thần đặc biệt, do đó khi phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn thường kéo dài, gay gắt và khó hàn gắn.
Theo Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân năm 2024, các vụ án thừa kế chiếm khoảng 25% tổng số vụ án dân sự được thụ lý, trong đó tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất chiếm tỷ lệ lớn [4]. Thực tiễn này cho thấy sức ép lớn đặt lên hệ thống tư pháp trong việc giải quyết vừa đúng pháp luật, vừa bảo đảm ổn định quan hệ gia đình và trật tự xã hội.
Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành đã có những quy định tương đối đầy đủ về thừa kế và đất đai, tuy nhiên, việc áp dụng trong thực tiễn vẫn còn nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở pháp lý của thừa kế quyền sử dụng đất
Về mặt lý luận, quyền sử dụng đất được xem là một loại tài sản đặc biệt, vừa mang bản chất của quyền tài sản trong dân sự, vừa chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật đất đai với tư cách là đối tượng quản lý của Nhà nước. Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, trong đó bao gồm cả quyền sử dụng đất” [1]. Trong khi đó, tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2024, quy định điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất, đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ). Chính sự khác biệt về cách tiếp cận giữa hai đạo luật đã gây ra nhiều khó khăn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế.
Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người để lại di sản có quá trình sử dụng đất ổn định, lâu dài, nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận do nguyên nhân lịch sử hoặc thủ tục hành chính. Khi phát sinh tranh chấp trong việc chia di sản thừa kế, Tòa án lúng túng trong việc xác định đây có phải là di sản hợp pháp hay không. Thực tiễn này cho thấy nhu cầu cấp thiết về sự thống nhất giữa Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và tính ổn định của quan hệ tài sản.
2.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
Thứ nhất, xung đột giữa di chúc và quyền thừa kế bắt buộc
Quyền lập di chúc là biểu hiện cao nhất của quyền tự do định đoạt tài sản. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam không công nhận quyền tự do tuyệt đối trong lĩnh vực thừa kế. Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015: “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” [1], nhằm bảo vệ quyền lợi của những chủ thể yếu thế trong gia đình như vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc cha mẹ già yếu. Quy định này thể hiện nguyên tắc tự do có giới hạn vì trách nhiệm xã hội, đảm bảo rằng ý chí cá nhân không được phép xâm hại đến quyền tối thiểu của những người yếu thế.
Trong thực tiễn, không ít trường hợp người lập di chúc đã truất quyền thừa kế của những người thuộc diện được hưởng di sản bắt buộc mà không có căn cứ pháp lý rõ ràng, dẫn đến xung đột gay gắt giữa ý chí định đoạt cá nhân và đạo lý gia đình.
Cơ chế này có sự tương đồng với pháp luật Cộng hoà Pháp, cụ thể tại Điều 912, Bộ luật Dân sự năm 2021 của Pháp cũng quy định phần di sản bắt buộc để bảo vệ con cái và duy trì trật tự huyết thống.
Như vậy, quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không chỉ thể hiện sự nhân văn trong pháp luật Việt Nam, mà còn khẳng định định hướng hài hòa giữa tự do cá nhân và trách nhiệm xã hội – một nguyên tắc đặc trưng của nền pháp lý hướng tới công bằng bền vững.
Án lệ số 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có ý nghĩa định hướng quan trọng khi khẳng định rằng [3]: Việc truất quyền thừa kế trong di chúc không làm mất quyền hưởng phần di sản bắt buộc của người thuộc diện được pháp luật bảo vệ. Án lệ này thể hiện rõ quan điểm của Tòa án trong việc giới hạn quyền tự định đoạt, qua đó bảo đảm sự cân bằng giữa tự do cá nhân và trách nhiệm gia đình.
Thứ hai, quyền sử dụng đất chưa được cấp Giấy chứng nhận
Một trong những khó khăn lớn nhất trong thực tiễn xét xử là việc giải quyết tranh chấp thừa kế đối với đất chưa được cấp Giấy chứng nhận. Trong các vụ việc này, Tòa án thường phải đánh giá toàn diện quá trình sử dụng đất, nguồn gốc, giấy tờ cũ và xác nhận của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, do thiếu hướng dẫn thống nhất, nên cùng một loại chứng cứ nhưng có thể được đánh giá khác nhau giữa các địa phương. Có một số vụ án Tòa án công nhận quyền thừa kế và kiến nghị cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận sau khi bản án có hiệu lực; nhưng cũng có những vụ án yêu cầu chia di sản thừa kế bị bác bỏ với lý do đất “chưa đủ điều kiện pháp lý”.
Sự không thống nhất này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự mà còn làm giảm tính dự đoán và ổn định của pháp luật, đòi hỏi cần có hướng dẫn cụ thể bằng nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hoặc án lệ mới.
Thứ ba, tính hợp pháp của di chúc
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, tính hợp lệ của di chúc là vấn đề thường xuyên gây tranh cãi. Theo Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về hình thức và nội dung. Nhưng thực tế xét xử cho thấy, nhiều di chúc viết tay bị vô hiệu vì: Không có người làm chứng, chữ viết không rõ ràng, hoặc có dấu hiệu bị tẩy xóa, sửa chữa.
Trong những trường họp này thường phải trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký, kéo dài thời gian giải quyết và làm gia tăng chi phí tố tụng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc công chứng, chứng thực di chúc trong phòng ngừa tranh chấp, đồng thời, cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân nhận thức đầy đủ hơn về giá trị pháp lý của di chúc.
Thừ tư, hoà giải tại cơ sở chưa đạt hiệu quả
Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai năm 2024, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện tranh chấp đất đai ra Tòa án [2]. Tuy nhiên, đối với tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất – vốn phức tạp cả về pháp lý lẫn tâm lý – hoạt động hòa giải tại cơ sở nhiều khi chỉ mang tính hình thức.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hòa giải viên chưa được trang bị đầy đủ kiến thức pháp luật chuyên sâu và kỹ năng xử lý xung đột lợi ích. Do đó, việc chuyên nghiệp hóa hoạt động hòa giải, có sự tham gia của luật sư, công chứng viên hoặc cán bộ chuyên môn trong các vụ việc phức tạp là giải pháp cần được nghiên cứu và áp dụng.
3. Một số giải pháp để làm giảm tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định pháp luật và hướng dẫn áp dụng thống nhất về việc công nhận quyền thừa kế đối với đất chưa được cấp Giấy chứng nhận nhưng có quá trình sử dụng ổn định, lâu dài.
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người dân chỉ có quyền sử dụng đất được Nhà nước công nhận qua GCN QSDĐ. Tuy nhiên, trên thực tế: Rất nhiều hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, lâu dài nhưng chưa được cấp GCN do nhiều nguyên nhân như: Biến động quy hoạch, thiếu hồ sơ nguồn gốc, hoặc chậm trễ trong thủ tục hành chính. Chính nguyên nhân này nên có nhiều trường hợp khi người sử dụng đất qua đời đã phát sinh một số vấn đề như: Đất chưa có GCN có được xem là di sản thừa kế không? Người thừa kế có thể yêu cầu chia thừa kế hoặc đứng tên không?
Vấn đề này hiện nay chưa có sự thống nhất trong quy định của pháp luật, chẳng hạn theo quy định từ Điếu 137 đến Điều 138 của Luật Đất đai năm 2024: Cấp GCN QSDĐ cho người đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
Quy định việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất ổn định và có giấy tờ hợp pháp theo quy định; cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không vi phạm pháp luật về đất đai và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Tuy nhiên, luật không nói rõ trong thời gian chưa cấp GCN, quyền sử dụng đó có được coi là di sản hay chưa.
Trong khi đó, theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: Di sản bao gồm tài sản của người chết để lại, bao gồm quyền sử dụng đất. Nhưng trong thực tế thì “quyền sử dụng đất” chỉ tồn tại khi được Nhà nước công nhận. Nhưng Bộ luật Dân sự năm 2015 lại không giải thích rõ trong trường hợp chưa có GCN, thì người để lại di sản đã có “quyền sử dụng đất ” chưa. Để giải quyết sự chưa thống nhất và chưa rõ ràng giữa các quy định của pháp luật thì Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP cho phép Tòa công nhận quyền thừa kế đối với đất đủ điều kiện được cấp GCN, dù chưa có GCN thực tế và một số án lệ của TANDTC (án lệ 03/2016/AL) cũng công nhận quyền thừa kế nếu người để lại di sản sử dụng đất hợp pháp, liên tục, không tranh chấp. Tuy nhiên, nhiều Tòa địa phương vẫn e dè vì sợ “vượt thẩm quyền hành chính”, dẫn đến phán quyết khác nhau cho cùng một tình huống. Chính điều này đã dẫn đến một thực tế thường gặp là: Người dân không được chia thừa kế, và cũng không thể xin cấp GCN vì chủ đất đã mất do Tòa án bảo “chưa có GCN → chưa có quyền sử dụng đất”, trong khi Uỷ ban nhân dân (UBND) bảo “chưa có bản án → chưa đủ cơ sở cấp sổ”. Vì vậy, dẫn đến tranh chấp kéo dài, phát sinh kiện tụng phức tạp, đặc biệt khi đất nằm trong khu vực quy hoạch, giải tỏa.
Thứ hai, đẩy mạnh số hoá và liên thông cơ sở dữ liệu giữa hệ thống công chứng, địa chính và Toà án nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phòng ngừa tranh chấp thừa kế.
Di sản thừa kế thường gắn với tài sản bất động sản, nhất là đất đai nhưng việc xác định nguồn gốc, quyền sử dụng, biến động lịch sử đất lại phụ thuộc vào nhiều hệ thống dữ liệu khác nhau như: Hồ sơ địa chính (tình trạng đất và chủ sử dụng đất) do Sở Tài nguyên Môi trường quản lý; Hồ sơ công chứng (ghi nhận di chúc, văn bản khai nhận thừa kế do Bộ Tư pháp quản lý; Hồ sơ Tòa án (bản án, quyết định chia di sản, tranh chấp) do Toà án nhân dân quản lý. Tuy nhiên, mỗi cơ quan lưu trữ riêng, định dạng khác nhau, không đồng bộ, nên khi phát sinh tranh chấp, phải thu thập thủ công, đối chiếu bằng giấy tờ, mất thời gian, dễ sai lệch. Bên cạnh đó, còn dễ phát sinh tranh chấp giả tạo do một người có thể công chức nhiều di chúc khác nhau, do các phòng công chứng không liên thông dữ liệu.
Thứ ba, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thừa kế và đất đai, đặc biệt là khuyến khích người dân lập di chúc hợp pháp và thực hiện công chứng, chứng thực kịp thời.
Mặc dù trong thời gian qua, công tác tuyên truyền pháp luật cho người dân đã được các cơ quan chức năng thực hiện thông qua nhiều hình thức. Tuy nhiên, thực tế không phải người dân nào cũng có thể tiếp cận và hiểu hết được các quy định của pháp luật. Vì thế, nhiều người dân không biết rằng di chúc viết tay không công chứng vẫn hợp pháp nếu đủ điều kiện theo Điều 630 BLDS, nhưng rất dễ bị tranh chấp do hình thức không rõ ràng; hay nhiều trường hợp người để lại di sản đã mất nhưng người được hưởng di sản vẫn không làm thủ tục khai nhận di sản mà chỉ nghĩ “từ từ tính” dẫn đến đôi lúc bị mất hồ sơ gốc hoặc hết thời gian khởi kiện (10 năm), nên khi cần giải quyết chia di sản thừa kế sẽ gặp rất nhiều khó khăn và xảy ra tình trạng tranh chấp kéo dài.
4. Kết luận
Giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là quá trình đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa hiểu biết pháp luật, bản lĩnh nghề nghiệp và cách tiếp cận nhân văn. Đây không chỉ là phép thử đối với năng lực của hệ thống tư pháp mà còn là thước đo về trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của những người làm công tác pháp luật.
Trong bối cảnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật, thống nhất áp dụng án lệ, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di chúc và nâng cao chất lượng hòa giải là những giải pháp mang tính nền tảng, góp phần bảo đảm quyền thừa kế hợp pháp của công dân và gìn giữ những giá trị nhân văn trong gia đình và xã hội./.
Tài liệu tham khảo
- Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Luật Đất đai năm 2013; Luật Đất đai năm 2024.
- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2016), Án lệ số 03/2016/AL.
- Báo cáo tổng kết ngành Tòa án nhân dân năm 2024.
- Nguyễn Văn Cường (2023), Một số vướng mắc trong giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, Tạp chí Nghề Luật.