Bàn về tội bức cung quy định tại Điều 374 Bộ luật hình sự năm 2015

ThS. NCS HOÀNG NGỌC ANH
Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại TP. Hồ Chí Minh

 Ngày nay, với sự phát triển cao về trình độ nhận thức của nhân loại, các quyền tự nhiên của con người như quyền được sống, quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm ngày càng được các quốc gia, các tổ chức quốc tế chú trọng, quan tâm. Để bảo đảm hữu hiệu việc thực hiện các quyền của con người trong cuộc sống, một loạt các giải pháp được xây dựng và triển khai thực hiện mang lại hiệu quả cao.

Trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966 khẳng định những quyền cơ bản của con người, cụ thể: “Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người…” (Điều 7); “Những người bị tước tự do vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm” (khoản 1 Điều 10); Người bị buộc tội “có quyền không đưa ra những lời khai chống lại mình hoặc không bị ép buộc nhận tội” (điểm g khoản 3 Điều 14). Việt Nam chính thức gia nhập Công ước này vào ngày 24/9/1982. Để nội luật hóa các nội dung của Công ước, trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân luôn được xác định là các quyền hiến định, được bảo vệ tuyệt đối và ở mức cao nhất. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14); “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” (khoản 1 Điều 20).

Thể chế hóa chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền dân sự, chính trị của con người, Bộ luật Hình sự (BLHS) của nước ta đã sớm ghi nhận tội bức cung, nhục hình nhằm ngăn ngừa, phòng, chống các hành vi xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người khi tiến hành các hoạt động tố tụng.

BLHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận các tội phạm này trong Chương XXIV về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Trong phạm vi bài biết này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá các quy định của BLHS năm 2015 về tội bức cung tại Điều 374, từ đó đưa ra một số ý kiến nhằm hoàn thiện quy định của Điều luật này.

1. Về một số điểm mới của tội bức cung trong BLHS năm 2015

Tội bức cung được quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015 như sau:

“1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Dẫn đến làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

g) Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Làm người bị bức cung tự sát;

b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm người bị bức cung chết;

b) Dẫn đến làm oan người vô tội;

c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm”.

Điều luật không đưa ra khái niệm thế nào là bức cung, nhưng căn cứ nội dung nêu trên có thể hiểu: Bức cung là hành vi sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật trong hoạt động tố tụng (của người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử…) buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc trái với ý muốn của họ.

Nội dung Điều luật này so với quy định tại Điều 299 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có nhiều bổ sung quan trọng. Điều 374 BLHS năm 2015 có một số điểm mới như sau:

Thứ nhất, có sự điều chỉnh về số lượng điều khoản và về khung hình phạt:

Tội bức cung được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 tại Điều 299 gồm 4 khoản (khoản 1 quy định tình tiết định tội; khoản 2, 3 quy định tình tiết định khung tăng nặng; khoản 4 quy định hình phạt bổ sung). Còn tại Điều 374 BLHS năm 2015 thì khung hình phạt tăng lên gồm 5 khoản (khoản 1 quy định tình tiết định tội; khoản 2, 3, 4 quy định tình tiết định khung tăng nặng; khoản 5 quy định hình phạt bổ sung). Trong đó, khoản 3 Điều 374 BLHS năm 2015 quy định hình phạt nặng hơn (phạt tù từ 07 năm đến 12 năm) so với khoản 3 Điều 299 BLHS năm 1999 (phạt tù từ 05 năm đến 10 năm). Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã bổ sung mới khung hình phạt tại khoản 4 Điều 374 với mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Điểm mới này thể hiện tính răn đe nghiêm khắc hơn của pháp luật hình sự đối với tội phạm bức cung, nhằm nâng cao ý thức tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Thứ hai, Điều 374 BLHS năm 2015 có sửa đổi, bổ sung một số thuật ngữ pháp lý cơ bản 

Điều 374 BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ “trong hoạt động tố tụng” thay thế cho thuật ngữ “tiến hành điều tra, truy tố, xét xử”. Như vậy, diện đối tượng phạm tội bức cung đã được mở rộng hơn, bởi lẽ “người nào trong hoạt động tố tụng” đã bao trùm “người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử” và những người khác như người thi hành án… Điểm mới này đã khắc phục thiếu sót trong thực tiễn, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 trong những trường hợp người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng nhưng không phải là người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử.

Đồng thời, Điều 374 BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ “người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung” thay thế cho thuật ngữ “người bị thẩm vấn”. Điều này đảm bảo sự phù hợp với nội dung quy định của BLTTHS năm 2015 về hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại…

Theo quy định tại Điều 299 BLHS năm 1999, chỉ khi thực hiện hành vi ép buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm bức cung. Nhưng theo quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015 thì chỉ cần thực hiện hành vi ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc trái với ý muốn của họ thì đã cấu thành tội bức cung, mà không bắt buộc thông tin đó là sai sự thật. Đây là điểm mới rất quan trọng, theo đó, tội phạm quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015 trở thành tội phạm có cấu thành hình thức chứ không còn là tội phạm có cấu thành vật chất như trước đây. Theo đó, chỉ cần chứng minh được người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật để buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin của vụ án, vụ việc là đã đủ yếu tố cấu thành tội bức cung mà không cần phải gây ra hậu quả là buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng như trong quy định tại Điều 299 BLHS năm 1999. Điểm mới này nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người và hạn chế việc bức cung của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Thứ ba, Điều 374 BLHS năm 2015 bổ sung các quy định nhằm cụ thể hóa các tình tiết định khung thay thế cho các tình tiết mang tính định tính, chung chung như trước đây:

BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể, rõ ràng các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) của tội bức cung tại các khoản 2, 3, 4 Điều 374, thay thế cho các quy định mang tính định tính trong BLHS năm 1999 như: “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”.

Thứ tư, so với BLHS năm 1999, thì trong quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015, nhà làm luật đã bổ sung thêm đối với nội dung của hình phạt bổ sung tại khoản 5 với cụm từ “cấm hành nghề”. Cụ thể, khoản 5 Điều 374 quy định: “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm”.

2. Một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiện quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015

Trong những năm qua, cùng với tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội. Tình trạng lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó có những người tham gia tố tụng, như người bị tình nghi, bị can, bị cáo đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà vẫn còn xảy ra nhiều trường hợp người dân bị kết án oan, sai, vẫn còn xảy ra các trường hợp bức cung, dùng nhục hình trong hoạt động tư pháp. Một trong những nguyên nhân của thực trạng này là do các quy định của pháp luật hình sự còn tồn tại một số điểm bất cập, dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Do đó, cần có sự nghiên cứu cụ thể để kịp thời bổ sung, hoàn thiện nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Tác giả chỉ ra một số hạn chế và kiến nghị cụ thể như sau:

Thứ nhất, sự không đồng bộ về mặt thuật ngữ pháp lý được sử dụng:

Khoản 1 Điều 374 BLHS năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như phân tích ở phần trên, nội dung điều khoản này có điểm mới so với quy định tại khoản 1 Điều 299 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) trong việc điều chỉnh việc sử dụng thuật ngữ pháp lý “người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung” thay thế cho thuật ngữ “người bị thẩm vấn”. Đây là một sự sửa đổi, bổ sung phù hợp. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vào thực tiễn vẫn còn tồn tại một số hạn chế, gây ra nhiều cách hiểu không thống nhất về việc xác định phạm vi chủ thể của tên Điều luật với chủ thể trong nội dung cụ thể của khoản 1 Điều 374 BLHS năm 2015. Theo đó, tên Điều luật được giữ nguyên là “tội bức cung”, còn trong khoản 1 Điều 374 nhà làm luật thay thế bằng thuật ngữ “người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung”.

Theo quy định tại BLTTHS năm 2015, thì người bị hỏi cung chỉ bao gồm bị can, còn người bị lấy lời khai có thể là người làm chứng, người bị hại hoặc những người tham gia tố tụng khác.

Tuy nhiên, về mặt ngữ nghĩa, thì thuật ngữ “bức cung” được hiểu là việc dùng các thủ đoạn trái pháp luật để buộc người bị hỏi cung (bị can) phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc. Như vậy, hiểu theo nghĩa hẹp, thì thuật ngữ bức cung chỉ áp dụng đối với đối tượng là bị can mà không gồm những người tham gia tố tụng khác. Như vậy, căn cứ phân tích ở trên, thì việc đặt tên Điều luật là “tội bức cung” là chưa hoàn toàn chính xác và chưa bao quát hết phạm vi nội hàm mà nội dung Điều luật hướng đến. Do đó, tác giả kiến nghị, trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015, thì nhà làm luật cần nghiên cứu, sửa đổi tên Điều luật cho sát với nội dung của Điều luật.

Thứ hai, về tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 374 BLHS năm 2015:

Điểm c khoản 2 Điều 374 BLHS năm 2015 quy định:

“c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng”.  

Như vậy, nội dung Điều luật quy định trong hoạt động tố tụng, mà người có hành vi sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung là người già yếu phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 về cơ bản đã thay thế thuật ngữ người già yếu thành người từ đủ 70 tuổi trở lên. Do đó, quy định tại điều khoản này vẫn giữ nguyên thuật ngữ “người già yếu” là không đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với toàn bộ nội dung của BLHS năm 2015. Đây cũng là tồn tại của hầu hết các tội phạm quy định trong Chương XXIV về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Do đó, trong lần sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 tiếp theo, nhà làm luật cần điều chỉnh nội dung này cho phù hợp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành thì thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam mới chỉ có khái niệm “người cao tuổi” quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009.

Tại tiểu mục 2.4 mục 2 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự thì “người già” được xác định là người từ 70 tuổi trở lên.

Tại điểm a tiểu mục 4.1 mục 4 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thì “người quá già yếu” được xác định là người từ 70 tuổi trở lên, hoặc người từ 60 tuổi trở lên, nhưng thường xuyên đau ốm. Như vậy, hiện nay thuật ngữ “người già yếu” quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015 nói riêng và các điều luật thuộc Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, gây khó khăn trong áp dụng pháp luật. Do đó, trong khi BLHS năm 2015 chưa sửa đổi, bổ sung nội dung này, thì để đảm bảo việc hiểu và áp dụng pháp luật thống nhất, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về nội dung này. Tác giả kiến nghị, do thuật ngữ “người già yếu” bao gồm hai vế là “người già” và “yếu” nên nội dung văn bản hướng dẫn theo hướng “người già yếu” là người từ đủ 70 tuổi trở lên hoặc là người đủ 60 tuổi đến dưới 70 tuổi nhưng thường xuyên đau ốm.

Thứ ba, về việc quy định hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 374 BLHS năm 2015:

Khoản 5 Điều 374 BLHS năm 2015 quy định:

“Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm”.

Nội dung Điều luật được sửa đổi, bổ sung thêm hình phạt bổ sung là “cấm hành nghề” so với quy định tại khoản 4 Điều 299 BLHS năm 1999. Sự bổ sung này là phù hợp khi mà nội dung khoản 1 Điều 374 đã có sự điều chỉnh quy định “hoạt động tố tụng” thay cho việc xác định bó hẹp trong hoạt động “điều tra, truy tố, xét xử” trong BLHS năm 1999 như đã phân tích ở phần trên. Điều đó đồng nghĩa với việc chủ thể của tội phạm này được mở rộng hơn, do đó, hình phạt bổ sung có thể được áp dụng không chỉ là cấm đảm nhiệm chức vụ.

Tuy nhiên, sự bổ sung này là chưa đầy đủ, cụ thể tại điểm a khoản 2 Điều 32 BLHS năm 2015 quy định hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với người phạm tội là “cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”.

Như vậy, quy định tại khoản 5 Điều 374 BLHS năm 2015 nêu trên là chưa đầy đủ và chính xác, vì còn thiếu cụm từ “hoặc làm công việc nhất định”. Do đó, trong thời gian tới, khi sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 nhà làm luật cần điều chỉnh lại nội dung này cho phù hợp, đồng thời, để đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn hiện nay được thống nhất, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn nội dung này theo hướng hình phạt bổ sung được áp dụng đối với tội danh này phải được xác định đồng nhất với hình phạt bổ sung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 32 BLHS năm 2015.

Thứ tư, về tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 374 BLHS năm 2015:

Điểm d khoản 2 Điều 374 BLHS năm 2015 quy định tình tiết định khung tăng nặng là dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung. Đây là một tình tiết mới được bổ sung trong quy định tại Điều 374 BLHS năm 2015. Tuy nhiên, cả Điều 373 BLHS năm 2015 quy định về tội dùng nhục hình và nội dung điều khoản này đều không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là dùng nhục hình. Do vậy, trong thực tiễn còn tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất, trường hợp nào dùng nhục hình sẽ bị truy cứu TNHS về tội dùng nhục hình theo quy định tại Điều 373 BLHS năm 2015 và trường hợp nào bị truy cứu TNHS theo điểm d khoản 2 Điều 374 BLHS năm 2015. Nội dung này đang còn nhiều vướng mắc chưa được giải quyết. Vì vậy, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC sớm ban hành văn bản hướng dẫn theo hướng, quy định cụ thể căn cứ xác định hành vi dùng nhục hình trong tội bức cung khác với hành vi dùng nhục hình quy định tại Điều 373 để việc áp dụng được dễ dàng, thống nhất. Tác giả đề xuất việc hướng dẫn nên theo hướng, xác định mục đích của người phạm tội, theo đó, nếu việc dùng nhục hình nhằm buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc thì phải bị truy cứu TNHS về tội bức cung, còn không chứng minh được mục đích phạm tội này, thì truy cứu trách nhiệm về tội dùng nhục hình theo điều khoản tương ứng.

Thứ năm, tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 374 BLHS năm 2015 là “dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt” cũng là tình tiết mới được bổ sung trong quy định của Điều luật. Đây là một tình tiết mang tính định tính, việc xác định tình tiết này phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan của người tiến hành tố tụng, mà chưa có văn bản của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể căn cứ xác định. Do đó, để đảm bảo khách quan, công bằng, tác giả kiến nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn cụ thể về tình tiết này./.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân số 9-2021