ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017, 2025)
ThS. Nguyễn Thị Thu Hồng
Lương Thị Hiền
Cao Thanh Nga
Phân hiệu Trường Đại học Kiểm sát tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội phạm
- Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm, bất kỳ hành vi phạm tội nào đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả xâm phạm đến khách thể là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trật tự của nền sản xuất hàng hóa, xâm pham đến hoạt động kinh doanh chân chính của các cơ sở sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa hợp pháp, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của doanh nghiệp, nhãn hàng, làm mất sự ổn định của thị trường, xâm hại lợi ích và tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng.
– Đối tượng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng giả quy định tại Điều 192 BLHS bao gồm tất cả các loại hàng giả (trừ các đối tượng là hàng giả thuộc phạm vi quy định của Điều 193, Điều 194 và Điều 195 BLHS) bao gồm hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Việc tách Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; thuốc chữa bệnh, phòng bệnh; thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi… thành một tội riêng bởi tính chất nguy hiểm của các loại hành vi này có ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng và cần có đường lối xử lý khác nhau. Về mặt luật định, hàng hóa có thể thuộc tất cả các loại hàng hóa, từ hàng cao cấp đến những mặt hàng tiêu dùng thông thường, hàng giả có thể là mặt hàng trong nước và nước ngoài, hàng giả có thể là giả toàn bộ hoặc giả một phần. Cụ thể là[1]:
– Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
– Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;
– Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016;
– Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;
– Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;
– Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả.
Như vậy, từ các quy định trên thì đối tượng tác động của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là tất cả các loại hàng giả (trừ các đối tượng hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi), các hàng hóa đó được coi là hàng giả khi có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả. Trong trường hợp hàng giả là đối tượng tác động của các tội phạm khác thì người có hành vi sản xuất hoặc buôn bán sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng khác như hàng hóa là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 193 BLHS, hàng hoá là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 194 BLHS, hàng hóa là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 195 BLHS, hàng hóa là tem giả, vé giả thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202 BLHS hay tiền giả, công cụ chuyển nhượng giả và các giấy tờ có giá giả khác thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 207, Điều 208 BLHS, hàng giả liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 226 BLHS[2].
Trong thực tiễn, việc phân biệt hàng giả (chất lượng, công dụng) với hàng kém chất lượng để làm cơ sở cho việc xác định đối tượng hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật này rất phức tạp. Theo đó: Nếu sản xuất, buôn bán hàng giả thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 192 BLHS, nếu sản xuất, buôn bán hàng kém chất lượng thì hành vi không cấu thành tội phạm mà bị xử lý theo quy định về vi phạm chất lượng hàng hóa.
Hàng giả về chất lượng và hàng kém chất lượng đều là loại hàng hóa có mức chất lượng thấp hơn mức chất lượng đã đăng ký và công bố ghi trên nhãn, bao bì sản phẩm. Tuy nhiên, hàng giả là hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký, hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa còn hàng kém chất lượng là hàng hòa hợp pháp được cho phép sản xuất nhưng nhà sản xuất đã đưa ra thị trường loại hàng hóa có mức chất lượng, định lượng, đặc tính kĩ thuật thấp dưới mức chất lượng, định lượng, đặc tính kĩ thuật đã đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được ghi trên nhãn hiệu, bao bì nhưng công dụng, giá trị sử dụng của hàng hóa vẫn đạt trên 70%.
Như vậy, điểm khác cơ bản giữa hàng giả về chất lượng và hàng kém chất lượng là mức độ thấp hơn tiêu chuẩn đã đăng ký và công bố ghi trên bao bì, nhãn hàng hóa. Có nghĩa là cần xác định ranh giới chất lượng thấp đến mức nào thì coi là hàng kém chất lượng và thấp đến mức nào được coi là hàng giả về chất lượng. Ranh giới này nếu làm rõ sẽ giúp cho việc phân biệt hàng giả và hàng kém chất lượng có cơ sở pháp lý nhất định.
Bên cạnh đó cũng cần lưu ý: Hàng giả là đối tượng của các tội phạm khác thì người có hành vi sản xuất hoặc buôn bán sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng như: Tiền giả, công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 207 và 208 BLHS.
Tuy nhiên, nếu hàng giả lại là đối tượng đặc thù như: Ma túy, vũ khí vật liệu nỗ, chất cháy, chất phóng xạ, hàng cấm… Người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng mà không phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 192 BLHS.
- Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả. Hành vi khách quan của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm hai loại hành vi đó là hành vi sản xuất và hành vi buôn bán. Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định 98/NĐ-CP ngày 26/8/2020 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì hành vi sản xuất và hành vi buôn bán hàng giả được hiểu như sau:
– “Sản xuất” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa[3]. Có thể hiểu, sản xuất hàng giả là hành vi của người phạm tội để tạo ra các sản phẩm giống hệt hoặc tương tự có khả năng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu, hàng hóa của cơ sở sản xuất, buôn bán khác đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, hoặc đã được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Hành vi cụ thể được coi là hành vi sản xuất hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng giả. Người phạm tội có thể tham gia vào toàn bộ quá trình làm ra hàng giả hoặc chỉ một công đoạn của quá trình làm ra hàng giả. Hành vi sản xuất hàng giả có thể thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, có thể thực hiện bằng thủ công hoặc bằng dây chuyền hiện đại với mục đích lừa dối khách hàng để thu lợi bất chính. Đối với hành vi này, người phạm tội thực hiện các thủ đoạn sau: Sử dụng các nguyên vật liệu có chất lượng kém để tạo ra những hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với tính năng, công dụng và tên gọi của hàng hóa đó. Ngoài ra người phạm tội phải chuẩn bị trước mọi thứ như nguyên liệu, máy móc, nhà xưởng, dự trù loại hàng hóa sản xuất, móc nối để tiêu thụ do vậy họ bắt buộc phải thể hiện bằng hành động.
– “Buôn bán” là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông[4]. Đây là hành vi kinh doanh, mua đi bán lại loại hàng hóa biết rõ là hàng giả nhằm thu lợi bất chính, hành vi này có thể là chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, buôn bán, bán lẽ, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc hoạt động khác đưa hàng hóa vào lưu thông. Hành vi mua hàng giả nhằm mục đích sử dụng thì không cấu thành tội phạm này. Người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng giả hoặc thực hiện cả hai hành vi vừa sản xuất, vừa buôn bán hàng giả.
Có thể thấy hành vi khách quan của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả đều được thể hiện dưới dạng hành động. Người phạm tội phải tiến hành một hoạt động cụ thể tác động một cách trực tiếp vào quan hệ xã hội cụ thể: Chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói, mua, tàng trữ, vận chuyển hàng giả nhằm trao đổi, bán lại cho người khác…Về thời gian thực hiện tội phạm thì hành vi sản xuất hàng giả thường xảy ra trong một thời gian dài có tính liên tục còn hành vi buôn bán hàng giả có thể xảy ra trong một thời gian dài liên tục, có thể xảy ra trong thời gian ngắn và không liên tục.
Điều luật quy định hai hành vi khách quan khác nhau, đó là sản xuất và buôn bán. Vì vậy, khi định tội, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội thực hiện hành vi nào thì định tội theo hành vi đó, mà không định tội cả hai hành vi được liệt kê trong điều luật. Ví dụ: Một người chỉ thực hiện hành vi sản xuất hàng giả thì chỉ định tội là “sản xuất hàng giả”, không định tội “sản xuất, buôn bán hàng giả”. Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi cùng một đối tượng phạm tội thì định tội “sản xuất và buôn bán hàng giả. Trong trường hợp này Toà án chỉ áp dụng một mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội. Nếu người phạm tội thực hiện hai hành vi khác nhau đối với hai đối tượng phạm tội khác nhau thì định hai tội là Tội sản xuất hàng giả và Tội buôn bán hàng giả, trong trường hợp này Toà án quyết định hình phạt riêng đối với từng tội và áp dụng Điều 50 BLHS để tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội.
Để hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thỏa mãn dấu hiệu cấu thành Tội sản xuất, buôn bán hàng giả thì phải đáp ứng thêm điều kiện về số lượng hàng giả mà người phạm tội thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc các tội phạm quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196, 200, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc người phạm tội phải thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc phải gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% trở lên.
Thứ nhất, số lượng hàng giả mà người phạm tội thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng: (1) Người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các Điều 188 (Buôn lậu), Điều 189 (vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), 190 (sản xuất, buôn bán hàng cấm), 191 (tàng trữ, vận chuyển hàng cấm), 193 (sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), 194 (sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), 195 (sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), 196 (đầu cơ) và 200 (trốn thuế) của BLHS mà còn vi phạm. (2) Người phạm tội đã bị kết án về tội phạm quy định tại một trong các Điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Qua đây ta thấy dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính… mà còn vi phạm” “đã bị kết án, chưa xóa án tích mà còn vi phạm” có nghĩa là người phạm tội đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc một trong các hành vi quy định về các tội phạm: Tội buôn lậu; Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Tội sản xuất tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cẩm; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi; Tội kinh doanh trái phép; Tội trốn thuế. Pháp luật hình sự quy định như vậy là do nhóm tội này có tính chất nguy hiểm cho xã hội tương đối giống nhau. Do vậy việc quy định đã bị xử phạt hành chính về các hành vi quy định tại các tội trên cũng có ý nghĩa như quy định đã xử phạt hành chính hành vi quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Thứ hai, Người phạm tội phải thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên.
Thứ ba, hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ 31% trở lên hoặc gây thiệt hại về tính mạng người khác.
Đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả thì việc xác định giá trị tương đương của hàng giả so với giá trị của hàng thật trên thị trường là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa trong việc định tội, định khung. Trong những trường hợp không xác định được giá trị của hàng thật, chúng ta căn cứ vào hàng hóa có cùng tính năng, công dụng để xác định giá trị tương đương của hàng thật.
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả bao gồm pháp nhân và cá nhân. Đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân thì người thực hiện hành vi phạm tội phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Đối với chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại, phải thỏa mãn điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015: Hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện nhân danh pháp nhân; hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân; hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân.
- Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Động cơ, mục đích phạm tội là vụ lợi. Tuy nhiên, động cơ và mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu định tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.
- Các dấu hiệu định khung của Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
– Có tổ chức:Đây là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm a khoản 2, Điều 192 BLHS. Giống như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, sản xuất, buôn bán hàng giả có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên, không phải vụ án về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên, mà tuỳ từng trường hợp, có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức, nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành thì mới là phạm tội có tổ chức.
– Có tính chất chuyên nghiệp: Đây là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 2, Điều 192 BLHS. Sản xuất, buôn bán hàng giả có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội chủ yếu lấy việc sản xuất hoặc buôn bán hàng giả là nguồn sống chính của bản thân và gia đình mình và hành vi đó được lặp đi lặp lại nhiều lần (từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự). Nếu người phạm tội lấy việc phạm tội là nguồn sống chính, nhưng mới phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả một lần dù với quy mô như thế nào thì cũng không thuộc trường hợp có tính chất chuyên nghiệp. Tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp phạm tội thông thường. Tội phạm có tinh chất chuyên nghiệp, có khả năng thực hiện hành vi với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế.
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 192 BLHS. Cũng như các trường hợp phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Lợi dụng chức vụ để sản xuất, buôn bán hàng giả là trường hợp người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn và người phạm tội đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm.
Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Nếu những người này, lợi dụng chức vụ để san xuất, buôn bán hàng giả thì mới thuộc trường hợp lợi dụng chức vụ để phạm tội. Nếu có chức vụ, nhưng lại không lợi dụng chức vụ để sản xuất, buôn bán hàng giả thì không gọi là lợi dụng chức vụ.
Người có quyền hạn là người được giao thực hiện một công vụ và do thực hiện công vụ đó nên họ có một quyền hạn nhất định. Người có quyền hạn thông thường là người có chức vụ, nhưng cũng có thể là người không có chức vụ nhưng được giao hoặc được tham gia thực hiện một công vụ.
– Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 192 BLHS. Đây là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để sản xuất, buôn bán hàng giả. Thông thường, người phạm tội thông qua các hợp đồng kinh tế để sản xuất, buôn bán hàng giả. Như vậy, người phạm tội đã sử dụng trái phép uy tín, quyền hạn của cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên để dễ dàng thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả. So với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì hành vi lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước để sản xuất, buôn bán nguy hiểm hơn, vì khi bắt được hàng giả, xã hội, nhân dân cho rằng, cơ quan, tổ chức đi sản xuất, buôn bán hàng giả, làm giảm lòng tin của nhân dân.
– Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 192 BLHS. Nếu hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 192 BLHS. Việc xác định trị giá này sẽ Hội đồng định giá xác định thông quá giá hàng hóa mà công ty có hàng hóa thật niêm yết.
– Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 192 BLHS. Nếu người phạm tội thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 192 BLHS. Số tiền thu lợi bất chính là số tiền mà người phạm tội thu được sau khi trừ tất cả chi phí làm nên sản phẩm đó hoặc sau khi trừ đi số tiền mà người phạm tội mua hàng giả đó.
– Làm chết người: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả làm (01) người chết do đã sử dụng hàng giả đó thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 192 BLHS. Nếu làm 02 người chết thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c, khoản 3, Điều 192 BLHS
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên: Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 192 BLHS, trường hợp mà hành vi phạm tội đã dẫn đến hậu quả làm người đã sử dụng hàng giả bị thương tích hoặc bị tổn hại cho sức khỏe mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là từ 61% trở lên;
– Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%: Đây là trường hợp mà hành vi phạm tội đã dẫn đến hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121% thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, khoản 2, Điều 192 BLHS. Nếu hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên thì thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d, khoản 3, Điều 192 BLHS
– Gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã dẫn đến thiệt hại tài sản cho người khác từ 500 triệu đồng đến dưới mức 1,5 tỷ đồng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k, khoản 2, Điều 192 BLHS. Nếu hành vi phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ, khoản 3, Điều 192 BLHS
– Buôn bán qua biên giới: Việc quy định tình tiết buôn bán hàng giả qua biên giới là tình tiết định khung tăng năng là một điều hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, khi mà hàng giả không chỉ ở trong nước mà còn có hàng giả ngoại nhập. Ở các địa bàn giáp biên giới phía Bắc như: Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, các địa bàn giáp biên giới miền Trung: Quang trị, Nghệ An, Hà Tĩnh…, địa bàn biên giới miền Nam như: Tây Ninh, An Giang…các đối tượng đã đưa hàng giả bằng các lối mở để đưa vào Việt Nam để tiêu thụ
– Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS. Các dấu hiệu về tái phạm nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS. Tuy nhiên, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm khi: (1) Người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 192 BLHS, nếu chỉ phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 BLHS thì chưa thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm vì khoản 1 Điều 192 BLHS không phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, nếu người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm này thì đồng thời đã thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều 192 nên việc xác định tình tiết tái phạm nguy hiểm chỉ có ý nghĩa là tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS; (2) Người phạm tội đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả không phân biệt phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của Điều 192 BLHS.
- Hình phạt đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả thì chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại do đó, hình phạt đối với hai chủ thể này cùng khác nhau:
Hình phạt được áp dụng đối với người phạm Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được chia thành ba khung khác nhau theo quy định tại Điều 192 BLHS. Căn cứ vào các quy định về hình phạt của BLHS và Điều 192 BLHS có thể thấy, người phạm tội thuộc vào các khung hình phạt khác nhau có thể bị áp dụng các hình phạt tương ứng. Cụ thể:
Đối với hình phạt chính: Người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể bị áp dụng hình phạt tiền hoặc phạt tù. Điều 192 BLHS được cấu tạo thành bốn khoản với hai khung hình phạt (áp dụng cho cá nhân phạm tội), tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người phạm tội có thể bị áp dụng các mức hình phạt tương ứng khác nhau theo hướng, hành vi càng nguy hiểm, hậu quả càng lớn thì hình phạt càng nghiêm khắc, điều này chứng tỏ quan điểm Nhà nước ta trong vấn đề xử lý, phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Khung cơ bản quy định hình phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đây là hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội ở khung cơ bản tức là “Sản xuất, buôn bán hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng.
Khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 192 quy định hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Đây là hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội ở khung tăng nặng khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mà thuộc một trong các trường hợp sau: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng; Buôn bán qua biên giới; Tái phạm nguy hiểm. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 12.000.000.000 đồng (không áp dụng tình tiết tăng nặng Lợi dụng chức vụ, quyền hạn và Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức).
Khung tăng nặng tại khoản 3 Điều 192 quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Đây là hình phạt chính áp dụng đối với người phạm tội ở khung tăng nặng khi thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mà thuộc một trong các trường hợp sau: Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên; Làm chết 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì bị phạt tiền từ 12.000.000.000 đồng đến 18.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Đối với hình phạt bổ sung: người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả bên cạnh hình phạt chính còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như: phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015, 2017, 2025), Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015, 2021, 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)
- Chính phủ (2020), Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự – Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Thế Giới.
- Lê Quang Thành (2020), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, NXB Lao động, Hà Nội.
- Lê Đình Nghĩa, Bùi Thị Hằng (2025), “Bàn về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại điều 190 và điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015” đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 02/2025.
- Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, (2017) Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong trong pháp luật Hình sự Việt Nam” tại Trường Đại học Luật Hà Nội
- Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, (2023) Luận văn thạc sĩ Luật học “Tội sản xuất, buôn bán hàng giả trong Bộ luật Hình sự năm 2015” tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
[1] Khoản 7, Điều 3, Nghị định 98/NĐ-CP ngày 26/8/2020 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
[2] Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017”, tr.256
[3] Khoản 1, Điều 3 Nghị định 98/NĐ-CP ngày 26/8/2020 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
[4] Khoản 2, Điều 3 Nghị định 98/NĐ-CP ngày 26/8/2020 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng