Một số quy định mới của luật Thi hành án dân sự và lưu ý khi kiểm sát Thi hành án dân sự
ThS. GVC. Phạm Thị Mai
Phó Trưởng khoa Dân sự, hành chính và kiểm sát hoạt động tư pháp
- Đặt vấn đề
Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (sau đây gọi tắt là Luật THADS năm 2025), được Quốc hội thông qua ngày 05/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, ra đời trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và triển khai mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia. So với Luật THADS năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung), Luật THADS năm 2025 không chỉ sửa đổi, bổ sung về kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản về tư duy xây dựng pháp luật, mô hình tổ chức hệ thống thi hành án và phương thức tổ chức thi hành án dân sự.
Việc nắm vững và vận dụng đúng đắn các quy định mới của Luật THADS năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) trong việc thực hiện chức năng kiểm sát thi hành án dân sự (THADS), góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nâng cao hiệu quả thi hành các bản án, quyết định của Tòa án.
2. Những quy định mới cơ bản của Luật Thi hành án dân sự năm 2025
2.1. Mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật THADS năm 2025 là việc mở rộng phạm vi điều chỉnh khi bổ sung quy định về sự tham gia của chủ thể THADS ngoài nhà nước, gồm Văn phòng THADS và Thừa hành viên.
Luật mới bổ sung, quy định rõ hơn đối với một số loại quyết định được thi hành theo thủ tục THADS như: quyết định của Tòa án nhân dân tối cao được thi hành theo quy định của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, VKSND, TAND theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên; quy định chi tiết phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại bao gồm “phán quyết trọng tài” và “quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài” theo Luật Trọng tài thương mại; bổ sung điều khoản dự phòng “Bản án, quyết định khác được thi hành theo quy định của pháp luật” giúp chủ thể THADS có căn cứ thực hiện đối với các loại phán quyết mới phát sinh từ các luật chuyên ngành khác mà chưa được liệt kê cụ thể tại Điều 2, qua đó, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.
2.2. Hoàn thiện hệ thống nguyên tắc thi hành án dân sự
Luật mới hệ thống hóa đầy đủ các nguyên tắc THADS tại một điều luật thống nhất, tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc tổ chức thi hành án và hoạt động kiểm sát THADS. Các nguyên tắc được quy định theo hướng rõ ràng, cụ thể và gắn với trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên quan.
Đáng chú ý, Luật THADS năm 2025 nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với cả những người có hành vi cản trở thi hành án hoặc đang quản lý, chiếm hữu tài sản thi hành án nhưng không chấp hành yêu cầu hợp pháp của cơ quan THADS. Đồng thời bổ sung quy định nguyên tắc trách nhiệm thực hiện yêu cầu, đề nghị của cả cơ quan THADS, Văn phòng THADS, Chấp hành viên và Thừa hành viên; quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan THADS và Văn phòng THADS trong việc bố trí hoặc đề nghị bố trí phiên dịch cho người dân tộc thiểu số, người khuyết tật; xác định rõ đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân và người đứng đầu của cơ quan, tổ chức không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án, các yêu cầu, đề nghị của cơ quan THADS, Văn phòng THADS, Chấp hành viên, Thừa hành viên có thể bị xử phạt hành chính, kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Luật THADS năm 2025 đã thể chế hóa chuyển đổi số như một định hướng lập pháp xuyên suốt, không chỉ dừng ở việc ứng dụng công nghệ thông tin mang tính hỗ trợ hành chính mà tạo lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động THADS trên môi trường số. Quy định rõ hồ sơ thi hành án, văn bản, thông báo, dữ liệu điện tử được lập, lưu trữ và sử dụng theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý tương đương văn bản giấy. Quy định việc xây dựng Cơ sở dữ liệu THADS quốc gia, có tính tập trung, thống nhất và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác (dân cư, đất đai, đăng ký tài sản, đăng ký doanh nghiệp…); ưu tiên lựa chọn hình thức thực hiện trên môi trường số đối với các thủ tục thi hành án như: yêu cầu thi hành án (khoản 1 Điều 34); thông báo thi hành án (khoản 3, khoản 4 Điều 35); xác minh điều kiện thi hành án (khoản 3 Điều 37); yêu cầu xác nhận kế quả thi hành án (điểm h khoản 1 Điều 6); tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tố cáo về THADS trên môi trường số (Điều 103)… Điều này giúp đẩy nhanh tốc độ giải quyết án (đặc biệt trong khâu truy vết tài sản của người phải thi hành án), giảm bớt chi phí đi lại cho đương sự và minh bạch hóa toàn bộ quy trình làm việc của Chấp hành viên.
2.3. Đổi mới mô hình tổ chức hệ thống thi hành án dân sự và xã hội hóa hoạt động thi hành án dân sự có kiểm soát
Luật THADS năm 2025 quy định tổ chức hệ thống cơ quan THADS theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả hơn. Theo đó, bãi bỏ mô hình Chi cục THADS cấp huyện, thay bằng các Phòng THADS khu vực trực thuộc cơ quan THADS cấp tỉnh; bổ sung chức danh Chấp hành viên trưởng (là Trưởng phòng Phòng THADS khu vực) nhằm tăng cường trách nhiệm quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ đối với các Phòng THADS khu vực.
Song song với đó, Luật mới chính thức luật hóa mô hình xã hội hóa có kiểm soát hoạt động THADS thông qua việc thừa nhận Văn phòng Thi hành án dân sự và Thừa hành viên (được chuyển đổi từ Văn phòng Thừa phát lại và Thừa phát lại trước đây) là các chủ thể tham gia thực hiện một số hoạt động thi hành án dân sự. Việc thừa nhận chủ thể ngoài nhà nước tham gia THADS thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy lập pháp, góp phần giảm tải cho cơ quan nhà nước, đồng thời, tăng thêm quyền của đương sự trong việc lựa chọn chủ thể thực hiện hoạt động thi hành án dân sự.
Thừa hành viên được giao nhiệm vụ thi hành án, và thực hiện các công việc khác như: Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng. Văn phòng THADS có trách nhiệm mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Thừa hành viên và bồi thường thiệt hại do Thừa hành viên gây ra. Thừa hành viên có lỗi gây thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà Văn phòng Thi hành án dân sự đã bồi thường.
Khi Văn phòng THADS tổ chức thi hành án, Trưởng văn phòng THADS thực hiện các trình tự, thủ tục như Thủ trưởng CQ THADS; Thừa hành viên thực hiện như Chấp hành viên, nhưng không được áp dụng các quy định liên quan đến ủy thác thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án (đối với các vụ việc này, hồ sơ phải được chuyển lại cho cơ quan THADS).
2.4. Sửa đổi, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự
Luật THADS năm 2025 đã rà soát, sửa đổi và bổ sung nhiều quy định về trình tự, thủ tục THADS theo hướng rút ngắn thời hạn, tăng tính linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, đúng pháp luật. Các mốc thời gian về ra quyết định thi hành án, thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, xử lý tài sản, thanh toán tiền thi hành án được quy định rõ ràng hơn, hạn chế tình trạng kéo dài, chậm trễ trong thi hành án. Nhiều hoạt động thi hành án được quy định thực hiện trên môi trường số, như: Thông báo thi hành án qua môi trường số; xác minh điều kiện thi hành án thông qua khai thác cơ sở dữ liệu điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án.
- Quy định về xác minh điều kiện thi hành án
Quy định về xác minh điều kiện thi hành án đã được sửa đổi và chi tiết hóa đáng kể, chủ yếu tập trung vào việc rút ngắn thời hạn xác minh, áp dụng công nghệ số và công nhận vai trò của Văn phòng THADS trong xác minh điều kiện thi hành án. Thời hạn xác minh từ 10 ngày xuống còn 07 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án.
Chấp hành viên sử dụng thêm phương thức xác minh điều kiện thi hành án trên môi trường số, có quyền khai thác thông tin từ các cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án khác của người phải thi hành án, đồng thời có thể sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án do Văn phòng THADS, Thừa hành viên thực hiện để tổ chức thi hành án.
Các trường hợp ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án được bổ sung mới bao gồm: Tài sản đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất mà người phải thi hành không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án; Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất mà người phải thi hành không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án; Thi hành nghĩa vụ về trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan đã ban hành giấy tờ; Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án; Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc bán tài sản của người thi hành án đang cầm cố, thế chấp, đang được bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án; Trường hợp bán tài sản đấu giá không thành mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án mà người được thi hành án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án.
– Quy định về xác định tài sản và xử lý tranh chấp tài sản của người phải thi hành án
Theo quy định tại Điều 39 Luật THADS năm 2025, Chấp hành viên thông báo để đương sự và người có quyền sở hữu chung thỏa thuận phân chia tài sản hoặc yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu. Nếu sau 30 ngày không thỏa thuận được, hoặc thỏa thuận vi phạm pháp luật/ trái đạo đức xã hội làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trốn tránh nghĩa vụ nộp phí thi hành án hoặc không yêu cầu Tòa án giải quyết, Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp có giao dịch về tài sản thi hành án nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng mà cần tuyên bố vô hiệu thì cũng thực hiện tương tự theo quy định về cách thức xử lý tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định trong thời hạn là 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản (lần đầu). Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.
- Quy định về hoãn thi hành án
Luật THADS năm 2025 bổ sung nhiều trường hợp hoãn thi hành án mang tính tố tụng như: Nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ lý giải quyết yêu cầu hủy kết quả đấu giá, yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá; Nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với tài sản thi hành án của cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; Đang chờ cơ quan có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, giải thích bản án, quyết định hoặc đang thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của pháp luật; Tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà tài sản đó đang bị tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thu giữ, xử lý theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà người phải thi hành án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án…
– Quy định về thanh toán tiền thi hành án
Luật THADS năm 2025 có những điểm khác biệt đáng kể, chủ yếu tập trung vào việc mở rộng các khoản ưu tiên trừ trước khi chia cho đương sự và điều chỉnh thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các nhóm nghĩa vụ.
Về chi phí được trừ, ngoài chi phí thi hành án, khoản tiền thuê nhà cho người phải thi hành án (trong trường hợp cưỡng chế kê biên nhà ở duy nhất của người thi hành án), Luật mới bổ sung thêm các khoản phí, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan trực tiếp đến việc chuyển nhượng tài sản thi hành án.
Theo quy định mới, nhóm ưu tiên thanh toán thứ 3 được xác định là “tiền phạt; khoản truy thu tiền để sung quỹ nhà nước”. Đồng thời, bổ sung nhóm ưu tiên thanh toán thứ 4 là “bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế”; thứ 5 là “các khoản phải thi hành án khác theo bản án, quyết định”. Quy định về thanh toán nợ xấu tại khoản 4 Điều 54 Luật THADS năm 2025 cho phép kéo dài thời hạn thanh toán tiền THADS theo quy định của Chính phủ. Ngoài ra, việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản, trừ trường hợp không thể chuyển khoản thì thanh toán trực tiếp hoặc hình thức khác theo quy định của Chính phủ.
2.5. Hoàn thiện quy định về bảo đảm và cưỡng chế thi hành án dân sự
Luật THADS năm 2025 quy định bổ sung thêm biện pháp bảo đảm THADS là “Tạm hoãn xuất cảnh”, đồng thời, mở rộng thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm cho Thủ trưởng cơ quan THADS. Theo đó, Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm đối với các biện pháp: Phong tỏa tài khoản/tài sản ở nơi gửi giữ; Tạm ngừng giao dịch/ đăng ký/ chuyển quyền/ thay đổi hiện trạng; Tạm giữ tài sản/ giấy tờ. Thủ trưởng cơ quan THADS có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng ngay biện pháp Tạm hoãn xuất cảnh.
Nguyên tắc quan trọng về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cũng được luật hoá chính thức. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ và chi phí thi hành án, trừ các trường hợp ngoại lệ (không cần tương ứng) như: Tài sản không thể phân chia hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị; Tài sản đã được bản án, quyết định tuyên kê biên/ xử lý; Tài sản bảo đảm đã được tuyên xử lý; hoặc người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản (nếu tài sản đó đủ để thi hành án và các chi phí liên quan).
2.6. Hoàn thiện cơ chế khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm pháp lý trong thi hành án dân sự
Luật THADS năm 2025 mở rộng đối tượng bị khiếu nại, tố cáo trong THADS sáng cả chủ thể thi hành án ngoài nhà nước (các Văn phòng THADS và Thừa hành viên); đa dạng hoá kênh tiếp nhận khiếu nại, tố cáo để tạo thuận lợi của người dân thông qua hình thức trực tiếp khiếu nại, tố cáo hoặc khiếu nại, tố cáo trên môi trường số; làm rõ các trường hợp không thụ lý khiếu nại; quy định cụ thể hơn về thẩm quyền, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thời hạn giải quyết tố cáo thông thường được rút ngắn từ 60 ngày xuống chỉ còn 30 ngày kể từ ngày thụ lý; vụ việc phức tạp giảm từ 90 ngày xuống 60 ngày; chỉ vụ việc đặc biệt phức tạp mới kéo dài đến 90 ngày. Đồng thời, nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên quan trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS, tạo cơ sở để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động thi hành án.
2.7. Đổi mới quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong thi hành án dân sự
So với quy định tại Điều 12 Luật THADS năm 2008, Điều 12 Luật THADS năm 2025 đã có những thay đổi khi tách riêng quy định về giám sát và kiểm sát THADS, đồng thời, mở rộng đối tượng và phạm vi kiểm sát, đổi mới cách quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND, nâng cao vai trò của VKSND tối cao trong công tác kiểm sát THADS, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với Luật Tổ chức VKSND năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Theo quy định mới, trong công tác kiểm sát THADS, VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, cơ quan THADS, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có liên quan đến hoạt động thi hành án, đồng thời, kiểm sát việc tuân theo pháp luật Văn phòng THADS và Thừa hành viên. Như vậy, phạm vi kiểm sát được mở rộng tương ứng với việc xã hội hóa có kiểm soát hoạt động THADS, bảo đảm không có “khoảng trống kiểm sát” đối với các chủ thể thi hành án ngoài nhà nước.
Điều 12 Luật THADS năm 2025 đã đổi mới căn bản cách tiếp cận, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND theo hướng quy định nguyên tắc, phạm vi, đối tượng và trách nhiệm kiểm sát, đồng thời dẫn chiếu áp dụng Luật Tổ chức VKSND và các luật có liên quan.
Luật mới nhấn mạnh trách nhiệm của VKSND đối với hoạt động kiểm sát THADS, bổ sung rõ quyền yêu cầu, kiến nghị trong kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS. Cách quy định mới này không thu hẹp quyền hạn của VKSND trong THADS, mà chuẩn hóa và nâng tầm vị trí pháp lý, đặt hoạt động kiểm sát THADS trong chỉnh thể thống nhất của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.
Luật THADS 2025 cũng quy định rõ “Thẩm quyền kiểm sát của VKSND các cấp trong THADS thực hiện tương ứng với thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị…”. Điểm mới quan trọng này tạo sự thống nhất giữa thẩm quyền kiểm sát và thẩm quyền kháng nghị, kiến nghị của VKSND trong THADS, góp phần hạn chế sự chồng chéo, mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng và tăng tính rõ ràng, minh bạch trong phân cấp kiểm sát.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 12 Luật THADS năm 2025 quy định toàn diện vai trò của VKSND tối cao trong THADS, bao gồm: Phối hợp ban hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm sát, chỉ đạo nghiệp vụ toàn ngành; phối hợp tổng kết công tác THADS; chỉ đạo rà soát các bản án tuyên không rõ, khó thi hành; tham gia xây dựng, kết nối và khai thác cơ sở dữ liệu THADS trên môi trường số. Quy định này khẳng định vai trò trung tâm, dẫn dắt và điều phối của VKSND tối cao trong kiểm sát THADS, phù hợp yêu cầu chuyển đổi số và kiểm soát quyền lực tư pháp trong giai đoạn mới.
3. Một số lưu ý đối với công tác kiểm sát thi hành án dân sự
Từ những điểm mới cơ bản của Luật THADS năm 2025 nêu trên, có thể thấy phạm vi, nội dung và phương thức tổ chức THADS đã có nhiều thay đổi quan trọng, tác động trực tiếp đến yêu cầu và phương thức thực hiện công tác kiểm sát THADS của VKSND. Do đó, thiết nghĩ để thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực này, Kiểm sát viên cần lưu ý một số nội dung trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, mở rộng và xác định đúng phạm vi kiểm sát thi hành án dân sự. Luật THADS năm 2025 đã mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động thi hành án, không chỉ giới hạn ở cơ quan THADS nhà nước mà còn bao gồm hoạt động của Văn phòng THADS và Thừa hành viên – các chủ thể ngoài nhà nước được giao thực hiện một số hoạt động thi hành án theo cơ chế xã hội hóa có kiểm soát. Vì vậy, Kiểm sát viên cần nhận thức đầy đủ rằng: Khi Luật THADS năm 2025 có hiệu lực thi hành, đối tượng kiểm sát của VKSND không chỉ là quyết định, hành vi của cơ quan THADS nhà nước và Chấp hành viên, mà còn bao gồm quyết định, hành vi của Văn phòng THADS và Thừa hành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định.
Thứ hai, tăng cường kiểm sát việc tuân thủ các nguyên tắc thi hành án dân sự. Luật THADS năm 2025 đã hệ thống hóa đầy đủ các nguyên tắc thi hành án dân sự và gắn các nguyên tắc này với trách nhiệm pháp lý cụ thể của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Do đó, khi kiểm sát THADS, Kiểm sát viên cần chú trọng kiểm sát việc tôn trọng và bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; kiểm sát nguyên tắc tự nguyện và cưỡng chế thi hành án; kiểm sát việc áp dụng các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án có căn cứ, cần thiết và tương xứng, tránh tình trạng lạm quyền hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thứ ba, đổi mới phương thức kiểm sát trong bối cảnh chuyển đổi số THADS. Việc thừa nhận giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, văn bản điện tử và đẩy mạnh tổ chức thi hành án trên môi trường số đặt ra yêu cầu Kiểm sát viên phải thay đổi phương thức tiếp cận và kiểm sát hồ sơ THADS. Kiểm sát viên cần chú trọng kiểm sát tính đầy đủ, toàn vẹn, xác thực và hợp pháp của dữ liệu điện tử; kiểm sát việc khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu THADS và các cơ sở dữ liệu quốc gia khác đúng thẩm quyền, đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật.
Thứ tư, kiểm sát chặt chẽ trình tự, thủ tục THADS, nhất là các khâu dễ phát sinh vi phạm. Trong điều kiện Luật THADS mới rút ngắn nhiều thời hạn và bổ sung các thủ tục mới, Kiểm sát viên cần tập trung kiểm sát các khâu trọng tâm như: ra quyết định thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, xác định việc chưa có điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, xử lý tài sản, thanh toán tiền thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS. Việc kiểm sát cần được thực hiện toàn diện, từ căn cứ pháp lý đến trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý của từng quyết định, hành vi thi hành án.
Thứ năm, chú trọng kiểm sát trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên quan trong thi hành án dân sự. Luật THADS năm 2025 nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành bản án, quyết định và thực hiện yêu cầu, đề nghị của cơ quan THADS, Văn phòng THADS, Chấp hành viên, Thừa hành viên. Do đó, công tác kiểm sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện vi phạm về thủ tục, mà cần hướng tới kiểm sát trách nhiệm, kiểm sát việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ pháp luật của các chủ thể có liên quan; kịp thời ban hành kiến nghị, kháng nghị để khắc phục vi phạm, phòng ngừa vi phạm trong THADS.
Thứ sáu, lưu ý yêu cầu kiểm sát trong bối cảnh thay đổi mô hình tổ chức cơ quan THADS. Việc bãi bỏ Chi cục THADS cấp huyện và tổ chức lại thành các Phòng THADS khu vực trực thuộc cơ quan THADS cấp tỉnh là thay đổi lớn, có tác động trực tiếp đến công tác kiểm sát. Kiểm sát viên cần xác định đúng phạm vi thẩm quyền kiểm sát theo mô hình tổ chức mới; tăng cường kiểm sát giai đoạn chuyển tiếp, đặc biệt là việc bàn giao hồ sơ, tài sản, tiền thi hành án; đồng thời chú trọng kiểm sát trách nhiệm của Chấp hành viên trưởng – Trưởng phòng THADS khu vực trong việc tổ chức, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động thi hành án trên địa bàn được phân công.
Có thể thấy rằng, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 với nhiều đổi mới quan trọng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý hiện đại, phù hợp hơn cho hoạt động thi hành án dân sự trong giai đoạn mới. Việc nhận diện đúng các quy định mới và yêu cầu đặt ra đối với công tác kiểm sát THADS có ý nghĩa thiết thực đối với VKSND trong việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân./.