Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài

(Phần 1)

                                                                                       ThS. Nguyễn Thị Miến

Giảng viên Khoa Dân sự – Hành chính và Kiểm sát hoạt động tư pháp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng. Cùng với đó, các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp, đặt ra những yêu cầu cho hoạt động kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, người nước ngoài và lợi ích của Nhà nước. Công tác kiểm sát trong các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài vì vậy có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính công minh, khách quan và thống nhất trong áp dụng pháp luật. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.[1]

Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài[2].

Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó[3]. Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025) không định nghĩa cụ thể thế nào là đương sự ở nước ngoài, tuy nhiên, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025) quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:

– Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

– Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;

– Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;

– Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

– Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;

– Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.

Trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Kiểm sát viên tập trung vào một số nội dung quan trọng sau:

Thứ nhất, kiểm sát thẩm quyền xét xử của Tòa án. Đây là bước quan trọng bởi các vụ án có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Việc xác định sai thẩm quyền sẽ dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền theo hay chưa.

Dựa trên các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài, theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025) thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực. Ngoài ra, trong trường hợp vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được một Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025) thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài[4]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về thực hiện nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân, kể từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền như sau: Sơ thẩm vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, giải quyết phá sản và các vụ việc khác mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã thụ lý trước ngày 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong.

Ví dụ: Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 30/08/2025 về ly hôn có yếu tố nước ngoài giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L, địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện Y, tỉnh TQ (nay là thôn C, phường M, tỉnh TQ) – có đơn xin xét xử vắng mặt; và bị đơn là anh Kim Jeong H, sinh ngày 16/10/1991, quốc tịch: Hàn Quốc, nơi cư trú: I, J1, S, K, Hàn Quốc.

Nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị L và anh Kim Jeong H, sinh ngày 16/10/1991, quốc tịch Hàn Quốc đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc ngày 08/9/2017, đã ghi vào sổ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh TQ (nay là Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh TQ) số 11/2017 ngày 24/10/2017. Sau khi kết hôn, chị L cùng anh Kim Jeong H trở về Hàn Quốc sinh sống được khoảng 02 (hai) năm nhưng do bất đồng ngôn ngữ không có tiếng nói chung nên năm 2020 chị về Việt Nam và không trở lại Hàn Quốc nữa. Từ khi về nước chị ít liên lạc và đến nay đã mất liên lạc với anh Kim Jeong H. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không liên lạc, không quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Kim Jeong H.

Trong quá trình chung sống, chị và anh Kim Jeong H không có con chung, tài sản chung, vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Kim Jeong H, quốc tịch Hàn Quốc hiện đang ở I, J1, S, K, Hàn Quốc

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh TQ đã gửi Công văn số 03/TTTPDS-TA06 ngày 29 tháng 10 năm 2024 cùng hồ sơ ủy thác tư pháp đến Bộ Tư pháp để tống đạt cho anh Kim Jeong H theo quy định của pháp luật.

Nhân định của Tòa án: Chị Nguyễn Thị L và anh Kim Jeong H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Hàn Quốc ngày 08/9/2017; đã ghi vào sổ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh TQ số 11/2017 ngày 24/10/2017, theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo do chị Nguyễn Thị L giao nộp, trong đó có trích lục ghi chú kết hôn số 02/2024/TLGCKH-BS ngày 23/01/2024 giữa Nguyễn Thị L và Kim Jeong H, sinh ngày 16/10/1991, quốc tịch Hàn Quốc, hiện anh Kim Jeong H đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc, Tòa án nhân dân tỉnh TQ đã tiến hành lập hồ sơ ủy thác gửi đến cơ quan có thẩm quyền của Đại Hàn D để tống đạt cho anh Kim Jeong H.

Như vậy, có căn cứ xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh TQ theo quy định tại Điều 35 và điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Thực hiện Nghị quyết về sắp xếp các đơn vị hành chính trong cả nước, ngày 27/6/2025 Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân kể từ ngày 01/7/2025. Theo đó, căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị quyết trên, Tòa án nhân dân tỉnh TQ tiếp tục giải quyết vụ án này do đã thụ lý trước 01/7/2025 nhưng chưa giải quyết xong. Vụ án này đã được Tòa án nhân dân tỉnh TQ thụ lý từ ngày 09/10/2024, do đó Tòa án nhân dân tỉnh TQ tiếp tục giải quyết vụ án là đúng quy định.

Thông qua hoạt động kiểm sát, Viện Kiểm sát kiểm sát việc Tòa án đã xác định đúng thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ và theo loại việc hay chưa, từ đó kịp thời phát hiện những trường hợp xác định sai thẩm quyền.

Thứ hai, kiểm sát việc Tòa án xác định năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài được xác định như sau:

– Theo pháp luật của nước mà người nước ngoài có quốc tịch; trường hợp người nước ngoài là người không quốc tịch thì theo pháp luật của nước nơi người đó cư trú; nếu người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam;

– Theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài có quốc tịch và cư trú tại một trong các nước mà họ có quốc tịch nếu họ có nhiều quốc tịch nước ngoài.

Trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc tịch và cư trú ở nước mà không cùng với quốc tịch của nước đó thì theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài có thời gian mang quốc tịch dài nhất;

– Theo pháp luật Việt Nam nếu người nước ngoài có nhiều quốc tịch và một trong quốc tịch đó là quốc tịch Việt Nam hoặc người nước ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam[5].

Ngoài ra, cần lưu ý trường hợp người nước ngoài có thể được công nhận có năng lực hành vi tố tụng dân sự tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng dân sự[6].

Việc kiểm sát nhằm đảm bảo Tòa án áp dụng đúng căn cứ pháp luật, tránh tình trạng xác định sai dẫn đến vi phạm quyền tham gia tố tụng của người nước ngoài, đồng thời bảo đảm tính khách quan, hợp pháp và bình đẳng trong quá trình giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài.

(Còn tiếp)

[1] Khoản 1 Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Điều 471 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025).

[5] Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025).

[6] Khoản 2 Điều 466 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025  (văn bản hợp nhất ngày 26/8/2025).