Quyền khởi kiện vụ án Dân sự của Viện Kiểm sát liên quan đến bảo vệ quyền con người
ThS. Nguyễn Thị Tuyết Kha
Giảng viên Khoa Chính trị – Luật, Trường Đại học Kiên Giang
ThS. Phạm Hoàng Nam
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7- An Giang
Huỳnh Đông Vũ
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang
Tóm tắt: Phần lớn người dân Việt Nam hiểu và biết Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan Nhà nước, bảo vệ Hiến pháp và Pháp luật, quyền con người, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất bằng 02 chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong bài viết này nhóm tác giả đề cập đến nhiệm vụ mới của Viện Kiểm sát nhân dân là thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền con người của các chủ thể dễ bị tổn thương về quyền còn gọi là người yếu thế.
Từ khóa: Cơ quan bảo vệ quyền con người; khởi khiện dân sự; người yếu thế.
GROUPS OF CIVIL RIGHTS OF VULNERABLE PERSONS PROTECTED BY THE PEOPLE’S PROCURACY WHEN EXERCISING THE RIGHT TO INITIATE CIVIL LAWSUITS
Abstract: Most Vietnamese citizens understand and recognize the People’s Procuracy as a State agency responsible for protecting the Constitution and the law, human rights, the socialist regime, the interests of the State, and the lawful rights and interests of organizations and individuals. It contributes to ensuring that laws are strictly and uniformly observed through two primary functions: exercising the right to prosecute and supervising judicial activities. In this article, the authors discuss a new function of the People’s Procuracy–its exercise of the right to initiate civil lawsuits to protect the human rights of vulnerable groups, also referred to as disadvantaged individuals.
Keywords: Human rights protection agencies; Civil lawsuits; Vulnerable groups.
1. Đặt vấn đề.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: Phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”[1]. Bên cạnh đó, Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khẳng định quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.
Sách Trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam khẳng định:[2] “…cần tiếp cận một cách toàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá trong một tổng thể hài hoà, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào. Đồng thời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và phát huy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng… Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệt đối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, không quan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của cả cộng đồng là cách đề cập phiến diện, không phản ánh đầy đủ bức tranh toàn cảnh về quyền con người”.
Như vậy, tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người là mục tiêu và chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội nhiều tổ chức, cá nhân chưa thực sự gương mẫu, tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân, thậm chí còn có những hành động tiêu cực vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng của con người. Trong đó nhóm người yếu thế dễ bị tổn thương về quyền như: Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người lao động di trú, người cao tuổi, người sống chung với HIV, nhóm người dân tộc thiểu số còn gọi là người yếu thế. Người yếu thế là những cá nhân hoặc nhóm người ở trong vị thế bất lợi về kinh tế, xã hội, thể chất, tinh thần hoặc pháp lý, khiến họ khó có khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, dễ bị phân biệt đối xử, xâm hại hoặc bị thiệt thòi trong các quan hệ xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước đã trao quyền cho các cơ quan, tổ chức thay họ thực hiện quyền khởi kiện, nhưng không phải lúc nào các cơ quan tổ chức xã hội cũng có đủ quyền lực để đứng ra điều tra, thu thập chứng cứ và thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ quyền của người yếu thế đầy đủ và kịp thời.
Quyền được khởi kiện, quyền được bình đẳng, xét xử công bằng, công khai là một trong số nhóm quyền cơ bản của con người được Nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp 2013 sửa đổi bổ sung năm 2025, người yếu thế không tự mình khởi kiện dân sự được chủ yếu do hạn chế về nhận thức pháp luật, kinh tế, năng lực hành vi, khả năng thu thập chứng cứ và tâm lý e ngại. Vì vậy, Nhà nước đã có cơ chế hỗ trợ đặc biệt, như trợ giúp pháp lý, đại diện tố tụng hoặc Viện Kiểm sát khởi kiện thay. Ngày 24/6/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 9 đã thông qua Nghị quyết số 205/2025/QH15 về việc thí điểm Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công. Đây là nhiệm vụ mới của Viện Kiểm sát hết sức quan trọng, cần thiết và kịp thời trong bối cảnh xã hội phát triển, hiện đại và văn minh.[3]
2. Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan bảo vệ quyền con người
Cơ quan bảo vệ quyền con người là những cơ quan, tổ chức được Nhà nước thành lập hoặc được pháp luật công nhận, có chức năng, nhiệm vụ bảo đảm, tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người bằng các biện pháp: Xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật; Giám sát, kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm quyền con người; Tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đại diện bảo vệ cho người bị xâm phạm quyền; Giáo dục, tuyên truyền và hợp tác quốc tế về quyền con người.
Hiện nay, Việt Nam không có “Ủy ban nhân quyền quốc gia” độc lập theo mô hình các nước trên thế giới, nhưng hệ thống pháp luật đã xác lập nhiều cơ quan có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người. Các quyền con người được nêu trong Hiến pháp và pháp luật quốc gia, cũng như những cam kết ở quy mô khu vực và quốc tế về nhân quyền, chỉ có thể được hiện thực hóa khi các cơ chế bảo đảm thực thi quyền hoạt động hiệu quả. Cơ chế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam có thể hiểu bao gồm các cơ quan nhà nước bao gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, ở cấp trung ương và địa phương. Các thủ tục, trình tự để người dân có thể sử dụng để bảo vệ quyền của mình như: yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại, khởi kiện.
Với quyền tư pháp, Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ các giá trị quyền con người. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân và công dân, bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tài sản, quyền nhân thân và các quyền, tự do cơ bản của con người. Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan công tố và kiểm sát tư pháp, bảo đảm các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Gần đây, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân đã được Quốc hội thông qua việc sửa đổi bổ sung nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp. Nhiều đạo luật trong lĩnh vực tố tụng (tố tụng dân sự, tố tụng hành chính…) cũng đang tiếp tục được sửa đổi.
Hội nghị lần thứ 6, khóa XIII[4] của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao được Quốc hội giao cho nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng các Đề án nhằm thực hiện thí điểm cơ chế bảo vệ quyền lợi trong quan hệ dân sự cho nhóm người dễ bị tổn thương. Theo Đề án này, phạm vi đối tượng được xác định thuộc nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm: “người già yếu, trẻ em, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người bị mất năng lực hành vi dân sự”. Đây là nhóm đối tượng được các tổ chức, cơ quan của Nhà nước được giao quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong quan hệ dân sự vì họ là nhóm người có thiệt thòi hơn so với những người khác trong xã hội.
3. Một số quy định pháp luật về quyền khởi kiện vụ án dân sự
3.1. Khái niệm về quyền khởi kiện
Quyền khởi kiện dân sự là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyền hoặc lợi ích hợp pháp của mình (hoặc của người khác, hoặc lợi ích công cộng trong một số trường hợp) bị xâm phạm, để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự.[5]
Thứ nhất, về quyền khởi kiện vụ án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thứ hai, cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Thứ ba, trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện.[6]
3.2. Điều kiện Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự
Viện Kiểm sát sẽ thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, phát hiện hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền của nhóm người dễ tổn thương bằng sự kiện pháp lý mới, chưa được phát hiện. Viện Kiểm sát sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh và xác định có vi phạm gây thiệt hại đến quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công.
Thứ hai, Viện Kiểm sát phát hiện có vi phạm gây thiệt hại đến quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công trong quá trình giải quyết vụ án, vụ việc. Nhưng không thể xử lý trong cùng vụ án đó, đòi hỏi phải tách thành vụ án mới.
Sau khi phát hiện hành vi vi phạm đến các nhóm quyền của người yếu thế Viện Kiểm sát phải thông báo, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền, trách nhiệm khởi kiện theo quy định của pháp luật nhưng không có người khởi kiện[7]. Như vậy, điều kiện khởi kiện ở đây là Viện Kiểm sát khi đã thông báo, kiến nghị đến cơ quan, tổ chức xã hội như: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam; cơ quan lao động, thương binh và xã hội; người giám hộ… nhưng họ vẫn không khởi kiện thì Viện Kiểm sát mới được khởi kiện vụ án dân sự.
3.3. Thẩm quyền khởi kiện vụ án dân sự
Viện Kiểm sát khu vực tương ứng với Tòa án khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự công ích có quyền khởi kiện vụ án.[8]
Trường hợp vụ án phức tạp, giá trị thiệt hại lớn hoặc xảy ra trên địa bàn nhiều khu vực hoặc có yếu tố nước ngoài hoặc khi xét thấy cần thiết thì Viện Kiểm sát cấp tỉnh có thể khởi kiện hoặc tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, sau đó phân công cho Viện Kiểm sát khu vực khởi kiện vụ án.
Trường hợp vụ án rất phức tạp, giá trị thiệt hại rất lớn hoặc xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố hoặc có ảnh hưởng đến an ninh, đối ngoại hoặc khi xét thấy cần thiết thì Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có thể khởi kiện hoặc tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, sau đó phân công cho Viện Kiểm sát cấp dưới khởi kiện vụ án.
3.4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát trải từ tiếp nhận thông tin, khởi kiện trong thời gian giải quyết vụ án cho đến khi đưa ra bản án có hiệu lực pháp luật. Viện Kiểm sát có thẩm quyền thực hiện các nội dung: Tiếp nhận, xử lý thông tin về việc xâm phạm quyền dân sự của chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương hoặc lợi ích công; Kiểm tra, xác minh, thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ quyền dân sự, tài sản, bảo đảm thu thập, bảo vệ chứng cứ, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt vi phạm và áp dụng biện pháp để ngăn chặn, khắc phục hậu quả; Đình chỉ, phục hồi việc kiểm tra, xác minh; Thông báo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, trách nhiệm khởi kiện theo quy định của pháp luật; hỗ trợ việc khởi kiện.
Bên cạnh là cơ quan mang quyền lực nhà nước có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát còn có quyền, nghĩa vụ của người khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án.
4. Kết luận
Bản chất tự nhiên của con người là tư lợi, ai cũng muốn có thật nhiều quyền lợi mà không phải hy sinh điều gì. Vì thế, khi thụ hưởng các quyền của mình, một điều hết sức tự nhiên là ai cũng muốn mở rộng nó tối đa và thỏa mãn mong muốn của mình ở mức độ cao nhất. Mong muốn đó nếu vượt quá giới hạn cho phép nó sẽ lấn sang ranh giới quyền của người khác hay của xã hội. Trong đó người yếu thế họ không đủ năng lực hoặc điều kiện pháp lý để tự bảo vệ mình, họ dễ bị tổn thương và thường chịu thiệt thòi.
Việc Viện Kiểm sát khởi kiện vụ án dân sự nhằm ngăn ngừa lạm dụng quyền của một cá nhân hạn chế quyền dân sự, chính trị của người yếu thế là việc làm cần thiết. Đây là biện pháp hỗ trợ tư pháp đặc thù mang đậm tính nhân văn, phù hợp với thông lệ quốc tế về bảo vệ nhóm yếu thế. Điều đó khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc chủ động bảo vệ quyền con người, chứ không chỉ dừng lại ở việc “tạo điều kiện” để người dân tự bảo vệ./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp năm 2013
2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
3. Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân
4. Nghị quyết số 27/NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
5. Nghị quyết số 205/2025-QH15 của Quốc hội về việc thí điểm Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công
6. Bộ Ngoại giao “Sách trắng về quyền con người”, 2018, về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.
[1] Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam
[2] Trang7-8 Bộ Ngoại giao “Sách Trắng về thành tựu quyền con người của Việt Nam”
[3] Nghị quyết số 205/2025/QH15 về việc thí điểm Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
[4] Nghị quyết số 27-NQ-TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ 6, khóa XIII
[5] Điều 186, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
[6] khoản 2 Điều 193 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[7] Khoản 2, Điều 2 Nghị quyết số 205/2025/QH15 về việc thí điểm Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.
[8] Khoản 7 Điều 7 Nghị quyết số 205/2025/QH15 về việc thí điểm Viện Kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công.