Tổ chức và thực tiễn giám định tư pháp trong các vụ án liên quan đến ma túy tại Việt Nam
TS. Huỳnh Đông Bắc
Phó Hiệu trưởng – Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Kiểm sát tại TP. Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Bài viết đã phân tích vai trò và ý nghĩa của giám định tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm liên quan đến ma túy, trên cơ sở thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam. Tác giả bài viết đã xem xét các cơ sở pháp lý của hoạt động giám định tư pháp theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 5 năm 2026). Trên cơ sở số liệu thống kê giai đoạn 2024–2025, bài viết làm rõ quy mô của vấn đề tội phạm ma túy tại Việt Nam và tầm quan trọng đặc biệt của các kết luận giám định đối với hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự. Nghiên cứu dành sự chú ý đặc biệt đến các phương pháp giám định hóa học tư pháp đối với chất ma túy, quy trình lấy mẫu và nghiên cứu mẫu vật, cũng như hệ thống các cơ quan giám định. Từ đó, tác giả bài viết chỉ ra những tồn tại trong tổ chức và hoạt động giám định tư pháp hiện nay, đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện lĩnh vực này, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy.
Từ khóa: Giám định tư pháp, tội phạm liên quan đến ma túy, điều tra, truy tố, xét xử, giám định hóa học tư pháp, tố tụng hình sự.
Organization and Practice of Forensic Examination in Drug-Related Criminal Cases in Vietnam
Abstract: This article analyzes the role and significance of forensic expertise in the processes of investigation, prosecution, and adjudication of drug-related crimes, based on law-enforcement practice in Vietnam. The author examines the legal foundations of forensic expertise under the 2015 Criminal Code (as amended in 2025), the 2015 Criminal Procedure Code (as amended in 2025), and the Law on Forensic Expertise No. 105/2025/QH15 (effective from May 1, 2026). On the basis of statistical data for the period 2024–2025, the article clarifies the scale of drug-related crime in Vietnam and the particularly important role of expert conclusions in ensuring the effectiveness of criminal proceedings. Special attention is devoted to methods of forensic chemical examination of narcotic substances, procedures for sampling and sample analysis, as well as the system of forensic institutions. On that basis, the author identifies existing shortcomings in the organization and operation of forensic expertise and proposes recommendations to improve this field, thereby contributing to greater effectiveness in the prevention and combat of drug-related crime.
Keywords: Forensic expertise, drug-related crimes, investigation, prosecution, adjudication, forensic chemical examination, criminal procedure.
1. Đặt vấn đề
Các tội phạm về ma túy là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam. Theo số liệu của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (Bộ Công an), năm 2024, lực lượng chức năng toàn quốc đã triệt phá 29.928 vụ án, bắt giữ 51.938 đối tượng, thu giữ 60 kg thuốc phiện, 680 kg heroin, gần 2,3 tấn cần sa, 3,3 tấn và 3,3 triệu viên ma túy tổng hợp[1]. Trong chín tháng đầu năm 2025, ghi nhận hơn 19.000 vụ, bắt giữ 37.500 đối tượng; riêng sáu tháng đầu năm, Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy triệt phá 11.687 vụ, bắt giữ 22.863 đối tượng, thu giữ 150 kg heroin, 700 kg cần sa, 2,6 tấn và 1,7 triệu viên ma túy tổng hợp[2].
Tại Hà Nội, giai đoạn 2019-2023, Tòa án nhân dân thành phố đã xét xử 15.136 vụ án ma túy với 19.289 người phạm tội, bình quân 3.027 vụ và 3.858 người mỗi năm; trong đó tội tàng trữ và mua bán trái phép chiếm 96,6% tổng số vụ. Về quy mô người sử dụng, tính đến tháng 4/2025, toàn quốc có 369.359 người nghiện, người sử dụng trái phép, người nghi sử dụng và người bị quản lý sau cai, trong đó 107.278 người nghiện ma túy và 46.975 người sử dụng trái phép[3]. Tội phạm ma túy hiện mang tính tổ chức cao và xuyên quốc gia. Điển hình là vụ triệt phá ngày 22-23/3/2025 tại tỉnh Khánh Hòa, do đối tượng Trương Xuân Minh (quốc tịch Đài Loan, Trung Quốc) cầm đầu[4], thu giữ 1,4 tấn ketamin, gần 80 tấn hóa chất, tiền chất và bắt giữ 16 đối tượng. Trong bối cảnh đó, giám định tư pháp giữ vai trò then chốt: kết luận giám định là chứng cứ bắt buộc để xác định loại, số lượng và hàm lượng chất ma túy, cơ sở không thể thiếu cho việc khởi tố, điều tra và xét xử. Cơ sở pháp lý điều chỉnh lĩnh vực này bao gồm Bộ luật Hình sự năm 2015[5] (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015[6] (sửa đổi bởi Luật số 99/2025/QH15, hiệu lực từ 01/7/2025) và Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15[7] (thông qua ngày 05/12/2025, hiệu lực từ 01/5/2026).
Tuy nhiên, thực tiễn giám định tư pháp trong các vụ án ma túy vẫn tồn tại nhiều bất cập: thiếu giám định viên chuyên môn cao tại các tỉnh, cơ sở kỹ thuật còn hạn chế, thiếu mẫu chuẩn cho các loại ma túy tổng hợp mới, thời gian giám định kéo dài và phối hợp giữa cơ quan điều tra với tổ chức giám định chưa hiệu quả. Thực tế, cả nước chỉ có Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) đủ năng lực giám định hàm lượng chất ma túy, dẫn đến tình trạng quá tải và tồn đọng án. Do đó, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu nâng cao vai trò giám định tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về hoàn thiện pháp luật lẫn thúc đẩy hợp tác quốc tế chống tội phạm ma túy xuyên quốc gia.
2. Nội dung chính
2.1. Cơ sở pháp lý của việc trưng cầu và tiến hành giám định tư pháp trong các vụ án liên quan đến ma túy
Hệ thống điều chỉnh pháp lý về giám định tư pháp tại Việt Nam đã trải qua những thay đổi đáng kể trong năm 2025, do yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động giám định và điều chỉnh pháp luật trước những thách thức hiện đại trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Cơ sở pháp lý về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm liên quan đến ma túy là Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 bởi Luật số 86/2025/QH15, thông qua ngày 25/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Chương XIV Phần riêng của Bộ luật (các điều 248-256) quy định trách nhiệm đối với các hành vi phạm tội trong hoạt động mua bán trái phép chất ma túy[8]: tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248), tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội mua bán trái phép chất ma túy và các tội phạm khác trong nhóm tội này. Sự thay đổi quan trọng được đưa vào Bộ luật Hình sự qua Luật số 86/2025/QH15 là bãi bỏ hình phạt tử hình đối với tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), trong đó mức hình phạt cao nhất được xác định là tù chung thân. Ngoài ra, Điều 256a mới đã được bổ sung, quy định trách nhiệm hình sự đối với tội sử dụng trái phép chất ma túy theo hai khung hình phạt riêng biệt: (1) phạt tù từ 02 đến 03 năm đối với người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy (bắt buộc hoặc tự nguyện), đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện, hoặc trong thời hạn 02 năm kể từ khi kết thúc quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy; (2) phạt tù từ 03 đến 05 năm đối với trường hợp tái phạm về tội này.
Trình tự tố tụng trong việc trưng cầu và tiến hành giám định tư pháp được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam năm 2015. Luật số 99/2025/QH15[9], có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, đã sửa đổi, bổ sung đáng kể BLTTHS nhằm hoàn thiện thủ tục giám định tư pháp. Điều 205 BLTTHS quy định những điều khoản chung về trưng cầu giám định: khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206 của Bộ luật này, hoặc khi cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy cần thiết, thì ra quyết định trưng cầu giám định. Điều 206 BLTTHS xác định các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, bao gồm: xác định tình trạng tâm thần của bị can khi có nghi ngờ về năng lực chịu trách nhiệm hình sự; xác định tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có nghi ngờ về khả năng nhận thức; xác định nguyên nhân tử vong; xác định tính chất và mức độ thương tích; xác định tuổi của bị can, bị cáo, bị hại khi tài liệu về tuổi không có hoặc có nghi ngờ; xác định tình trạng tâm thần hoặc thể chất của bị hại, người làm chứng nếu có nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo. Đối với các vụ án liên quan đến ma túy, việc trưng cầu giám định tư pháp là bắt buộc để xác định loại và số lượng chất ma túy, xác định chất đó có thuộc danh mục chất ma túy theo quy định chính thức hay không, cũng như xác định hàm lượng các hoạt chất. Không có kết luận giám định này thì không thể định tội và xác định hình phạt, bởi lẽ các dấu hiệu định khung trong cấu thành tội phạm liên quan đến ma túy phụ thuộc trực tiếp vào khối lượng chất ma túy. Điều 208 BLTTHS, được sửa đổi bởi Luật 99/2025/QH15, quy định thời hạn tiến hành giám định như sau: đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo Điều 206, thời hạn tối đa được xác định tương ứng với từng khoản của điều đó; đối với các trường hợp khác, thời hạn tiến hành giám định thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp (không còn xác định theo quyết định trưng cầu giám định như quy định cũ). Nếu việc giám định không thể hoàn thành trong thời hạn quy định, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định phải thông báo kịp thời bằng văn bản cho cơ quan đã trưng cầu giám định, kèm theo lý do cụ thể.
Luật Giám định tư pháp có ý nghĩa trung tâm trong việc điều chỉnh pháp lý về giám định tư pháp. Luật số 105/2025/QH15, được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 05/12/2025, thay thế Luật năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và có hiệu lực từ ngày 01/5/2026. Luật Giám định tư pháp mới chứa đựng một số điểm mới quan trọng[10]. Về tiêu chuẩn giám định viên tư pháp, Điều 10 Luật mới quy định giám định viên phải có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế hoạt động chuyên môn từ đủ 05 năm trở lên ở lĩnh vực được đào tạo; riêng giám định viên pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự đã trực tiếp giúp việc trong hoạt động giám định thì thời gian thực tế chuyên môn chỉ cần từ đủ 03 năm trở lên. Luật năm 2025 cũng quy định các tiêu chí chặt chẽ hơn đối với những người không được bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp và bổ sung thêm Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của mình, đây là điểm mới quan trọng so với Luật năm 2012. Một điểm mới quan trọng là hoàn thiện thủ tục giám định lại và thiết lập chế định bắt buộc phải giám định lại trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các kết luận giám định của các giám định viên khác nhau về cùng một vấn đề; đồng thời quy định khả năng tiến hành đối chất chuyên môn giữa các chuyên gia để giải quyết những bất đồng. Luật quy định hệ thống tổ chức giám định tư pháp, bao gồm: tổ chức giám định tư pháp thuộc lực lượng công an nhân dân; tổ chức giám định tư pháp thuộc Bộ Y tế; tổ chức giám định tư pháp thuộc Bộ Quốc phòng; các tổ chức giám định tư pháp nhà nước và ngoài nhà nước khác đã được cấp phép hoạt động. Luật quy định trình tự công nhận tổ chức giám định tư pháp, yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật, trình tự lập và quản lý danh sách giám định viên tư pháp.
Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể hóa trình tự tiến hành giám định tư pháp và quy định mức thù lao cho hoạt động giám định. Theo Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg[11] của Thủ tướng Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 20/5/2025), chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp được phân thành hai hình thức: bồi dưỡng theo ngày công (áp dụng cho lĩnh vực kỹ thuật hình sự và các lĩnh vực khác không thuộc pháp y) và bồi dưỡng theo vụ việc (áp dụng cho lĩnh vực pháp y và pháp y tâm thần). Trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, bồi dưỡng được tính theo ngày công (Điều 2): Mức 400.000 đồng/ngày áp dụng cho giám định thông thường; mức 500.000 đồng/ngày cho giám định phức tạp về chuyên môn hoặc phải tiếp xúc với nguồn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm B; mức 600.000 đồng/ngày cho giám định phải tiếp xúc với đối tượng nhiễm HIV/AIDS, nguồn bệnh đặc biệt nguy hiểm nhóm A, chất phóng xạ hoặc hóa chất nguy hiểm. Đây là các mức áp dụng cho người giám định chuyên trách; đối với người giám định kiêm nhiệm, mức tương ứng là 500.000, 700.000 và 1.000.000 đồng/ngày. Riêng mức bồi dưỡng cụ thể cho giám định tang vật chất ma túy (không phải mẫu sinh học) trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự được xác định theo quy trình giám định chuẩn do Bộ Công an hướng dẫn, căn cứ vào các mức ngày công nêu trên.
Như vậy, tác giả cho rằng, cơ sở pháp lý về giám định tư pháp tại Việt Nam có tính hệ thống và toàn diện. Việc cải cách pháp luật năm 2025 thể hiện mong muốn của Nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động giám định bằng cách tăng cường yêu cầu về trình độ chuyên môn của giám định viên, tối ưu hóa các thủ tục và thời hạn tiến hành giám định, điều này đặc biệt cấp thiết trong bối cảnh tội phạm ma túy ngày càng
gia tăng.
2.2. Các loại và phương pháp giám định tư pháp trong các vụ án liên quan đến ma túy
Trong điều tra các tội phạm liên quan đến mua bán trái phép chất ma túy, một dải rộng các loại giám định tư pháp khác nhau được áp dụng. Các loại chính bao gồm: giám định kỹ thuật hình sự về chất ma túy (tang vật), giám định pháp y (bao gồm xét nghiệm mẫu sinh học xác định sử dụng ma túy), giám định sinh học pháp lý (giám định ADN), giám định thực vật học pháp lý, cũng như giám định tài liệu kỹ thuật hình sự, giám định dấu vân tay và các loại khác.
Giám định kỹ thuật hình sự về chất ma túy là loại giám định phổ biến và quan trọng nhất trong nhóm án này, do Phòng/Viện Kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Công an (và cấp địa phương) thực hiện, hoặc do Khoa Hóa pháp, Viện Pháp y Quốc gia thực hiện trong lĩnh vực pháp y. Đối tượng của loại giám định này là xác lập các dữ liệu thực tế về bản chất, tính chất, phương pháp điều chế chất ma túy dựa trên kiến thức khoa học chuyên sâu. Trong mọi trường hợp thu giữ được chất nghi là ma túy, cơ quan điều tra bắt buộc phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng và trọng lượng chất ma túy. Nhiệm vụ chủ yếu của giám định kỹ thuật hình sự về chất ma túy bao gồm: xác định sự có mặt của chất ma túy trong chất được nghiên cứu; xác định loại ma túy cụ thể và sự thuộc về danh mục theo quy định pháp luật (Nghị định số 28/2026/NĐ-CP)[12]; xác định số lượng (khối lượng) chất ma túy; xác định hàm lượng thành phần hoạt tính gây nghiện; xác định phương thức điều chế; xác định dấu vết ma túy trên các đồ vật mang dấu vết. Kết luận giám định phải xác định rõ loại ma túy theo tên cụ thể (ví dụ: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng X gam”), không được dùng cụm từ mơ hồ như “là chế phẩm Heroin” hay “có thành phần Heroin”.
Các phương pháp phân tích nhanh sơ bộ. Ở giai đoạn đầu của điều tra, để nhanh chóng xác định sơ bộ sự có mặt của chất ma túy, các bộ kit kiểm tra nhanh được sử dụng như “Narkotest”, politest “R-2”, “R-3” (để kiểm tra nguyên liệu thực vật) hoặc “F-1-9” (đối với dược phẩm). Kết quả kiểm tra nhanh này là biện pháp nghiệp vụ sơ bộ, không có giá trị pháp lý, không phải chứng cứ trong vụ án; điều tra viên có nghĩa vụ trưng cầu giám định tư pháp đầy đủ đối với chất đã được kiểm tra bằng phương pháp thử nhanh.
Các phương pháp quang phổ học. Quang phổ hồng ngoại (IR) cho phép nhận dạng các chất ma túy theo các dải hấp thụ đặc trưng. Quang phổ tử ngoại (UV) được sử dụng để nhận dạng sơ bộ và xác định định lượng ma túy.
Các phương pháp sắc ký. Sắc ký khí (GC) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) là các phương pháp phân tích chính trong phân tích định lượng và định tính chất ma túy. Để nâng cao độ tin cậy, phương pháp sắc ký-khối phổ (GC-MS) được áp dụng, kết hợp khả năng phân tách sắc ký và nhận dạng bằng khối phổ[13].
Các phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). Quang phổ 1H-NMR và 13C-NMR được sử dụng để xác định cấu trúc phân tử của các chất gây nghiện chưa biết, đặc biệt là các ma túy tổng hợp mới, cho phép nhận dạng chất một cách rõ ràng. Ví dụ điển hình là nghiên cứu do các chuyên gia Việt Nam tiến hành giai đoạn 2016–2018 về tách chiết và nhận dạng cannabinoid tổng hợp FUB-AMB từ các mẫu cần sa tổng hợp (“cỏ Mỹ”) thu giữ tại nhiều vùng của Việt Nam[14]. Nghiên cứu áp dụng tổ hợp phương pháp: chiết methanol ở 40°C, sắc ký cột, tinh chế bằng sắc ký điều chế, nhận dạng bằng UV, IR, 1H-NMR và 13C-NMR. Từ 10 gam dịch chiết methanol, thu được FUB-AMB với độ tinh khiết 98,34% theo HPLC, được dùng làm mẫu chuẩn xây dựng phương pháp định tính và định lượng loại cannabinoid tổng hợp này.
Giám định tư pháp được trưng cầu nhằm xác định đối tượng cụ thể đã sử dụng chất ma túy, xác định loại ma túy đã dùng, thời gian sử dụng và mức độ nhiễm ma túy. Các mẫu sinh học được thu thập gồm: nước tiểu, máu, tóc. Việc nghiên cứu mẫu sinh học áp dụng: phương pháp miễn dịch enzyme để sàng lọc sơ bộ (opioid, cannabinoid, amphetamine, cocaine); sắc ký khí (GC) để xác định chất dễ bay hơi và GC-MS để nhận dạng và định lượng ma túy trong máu, nước tiểu[15]. Xét nghiệm tóc có ý nghĩa đặc biệt vì cho phép xác định sự kiện sử dụng ma túy trong khoảng thời gian dài (lên đến vài tháng), điều không thể thực hiện khi chỉ xét nghiệm máu hoặc nước tiểu. Thời hạn tiến hành giám định được xác định theo Điều 208 BLTTHS và Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15, tùy thuộc vào trường hợp bắt buộc hay không bắt buộc trưng cầu.
Giám định tư pháp sinh học (giám định ADN) đóng vai trò quan trọng trong điều tra tội phạm ma túy để nhận dạng nghi phạm dựa trên dấu vết sinh học để lại tại hiện trường, trên công cụ phạm tội hoặc trên bao bì ma túy. Các phương pháp phân tích ADN tại Việt Nam bao gồm: phân tích ADN nhân (phân tích các locus STR nhiễm sắc thể thường), ADN ti thể, và phân tích Y-STR, được áp dụng khi cần phát hiện sự có mặt của ADN nam trong hỗn hợp với nhiều ADN nữ. Quy trình tiến hành: tách chiết ADN; xác định định lượng nồng độ ADN; khuếch đại bằng PCR; phân tách điện di; phân tích thống kê và tính xác suất trùng khớp, toàn bộ thực hiện dưới kiểm soát chất lượng bằng đối chứng dương và âm[16].
Giám định tư pháp thực vật học được trưng cầu khi vật chứng là thực vật hoặc bộ phận của chúng: đầu nang thuốc phiện, rơm thuốc phiện, cây cần sa hoặc giống cần sa, các chất đã được nghiền nát. Nhiệm vụ chính là xác định loài thực vật và khả năng sử dụng để chế tạo ma túy. Cả phân tích hình thái học truyền thống lẫn phương pháp sinh học phân tử hiện đại đều được áp dụng, phân tích mã vạch ADN (DNA barcoding) sử dụng các đoạn ADN đặc hiệu (matK, rbcL, ITS) để nhận dạng chính xác loài thực vật[17].
Giám định kỹ thuật hình sự tài liệu được trưng cầu nhằm xác định tính xác thực của tài liệu được sử dụng trong hoạt động mua bán trái phép chất ma túy (đơn thuốc, hóa đơn, giấy chứng nhận), nhận dạng người viết bản ghi tay và chữ ký. Giám định dấu vân tay cho phép nhận dạng cá nhân theo dấu ngón tay để lại trên bao bì ma túy, thiết bị và các vật thể khác[18].
Giám định tình trạng nghiện ma túy là loại giám định chuyên biệt, được tiến hành bởi hội đồng chuyên môn tại cơ sở y tế có thẩm quyền (cơ sở cai nghiện bắt buộc, trung tâm pháp y tâm thần). Mục đích là xác định có hay không có tình trạng nghiện, loại và giai đoạn nghiện, sự cần thiết áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Giám định thường được tiến hành theo hình thức ngoại trú; chỉ trong trường hợp đặc biệt khi cần quan sát đối tượng trong điều kiện nội trú mới trưng cầu giám định nội trú. Kết luận phải bao gồm: phần mở đầu, thông tin tiểu sử, mô tả tình trạng thể chất và tâm thần, số liệu xét nghiệm lâm sàng, phần lập luận và các kết luận được trình bày dưới dạng khẳng định chắc chắn[19].
Như vậy, có thể thấy rằng, trong điều tra các tội phạm liên quan đến ma túy đòi hỏi phải áp dụng dải rộng các loại giám định tư pháp và các phương pháp nghiên cứu công nghệ cao hiện đại. Áp dụng tổng hợp các loại giám định khác nhau cho phép thu thập đầy đủ cơ sở chứng cứ cần thiết cho việc truy tố thành công và xét xử vụ án.
2.3. Tổ chức và thực tiễn giám định tư pháp trong các vụ án liên quan đến ma túy tại Việt Nam
Hệ thống tổ chức giám định tư pháp của Việt Nam thực hiện giám định trong các vụ án liên quan đến ma túy có cơ cấu thứ bậc và bao gồm các cơ quan của nhiều bộ, ngành khác nhau.
Thứ nhất, về các tổ chức giám định chính.
Ở cấp trung ương, đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự là Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công an, thực hiện giám định các vụ việc phức tạp nhất, nghiên cứu xây dựng phương pháp giám định mới và hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị địa phương. Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an cấp tỉnh thực hiện giám định trong các vụ án hình sự do công an địa phương điều tra. Ngoài ra, trong hệ thống kỹ thuật hình sự còn có Phòng Giám định kỹ thuật hình sự thuộc Bộ Quốc phòng và Phòng Giám định kỹ thuật hình sự thuộc VKSND tối cao[20].
Trong hệ thống Bộ Y tế, các tổ chức giám định pháp y gồm: Viện Pháp y Quốc gia (đầu ngành về pháp y, thực hiện giám định các vụ việc phức tạp, xây dựng quy chuẩn chuyên môn và đào tạo bồi dưỡng giám định viên pháp y); các trung tâm pháp y cấp tỉnh tiến hành giám định pháp y, bao gồm kiểm tra mẫu sinh học về sự có mặt của chất ma túy; Viện Pháp y tâm thần Trung ương và các trung tâm pháp y tâm thần khu vực thực hiện giám định về tình trạng tâm thần của bị can, bị hại.
Thứ hai, thực tiễn và khối lượng công việc.
Thực tiễn tiến hành giám định tư pháp về chất ma túy tại Việt Nam có đặc điểm là khối lượng công việc rất lớn. Từ năm 2018 đến 30/6/2023, hệ thống tổ chức, người giám định tư pháp ở các lĩnh vực đã thực hiện 1.039.699 vụ việc. Theo số liệu của Bộ Công an, trong năm 2025, toàn lực lượng KTHS đã tiếp nhận, thực hiện 195.174 yêu cầu, trưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng và đơn vị nghiệp vụ trong ngành Công an, trong đó đã tham gia khám nghiệm hiện trường 44.233 vụ, giám định 145.895 vụ và thực hiện 5.046 yêu cầu áp dụng biện pháp kỹ thuật phòng, chống tội phạm[21].
Tại tỉnh Tây Ninh trong năm 2025, trên lĩnh vực giám định kỹ thuật hình sự, đơn vị đã thực hiện 3.236 vụ/6.298 yêu cầu giám định, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như ma túy, tài liệu, kỹ thuật số – điện tử, súng đạn…; 100% yêu cầu giám định được kết luận đúng thời hạn. Công tác giám định pháp y được thực hiện nghiêm túc, chính xác với 412 vụ giám định tử thi, kết luận nguyên nhân tử vong đạt 100%, đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác điều tra các vụ án nghiêm trọng, phức tạp[22].
Thứ ba, quy trình tiến hành giám định tư pháp.
Quy trình tiến hành giám định tư pháp bao gồm một số giai đoạn bắt buộc. Việc chuẩn bị tài liệu trưng cầu giám định bắt đầu từ việc phát hiện, ghi nhận và thu giữ đồ vật cần nghiên cứu trong quá trình khám nghiệm hiện trường, khám xét người, khám xét nơi ở, nơi làm việc và thu giữ vật chứng. Khi phát hiện và kiểm tra sơ bộ chất nghi là ma túy, cần thu giữ không chỉ các chất có vẻ là ma túy mà còn các đồ vật khác có thể chứa vi dấu vết ma túy: giấy gói, hộp, lọ, miếng giấy, gạc, giấy bạc, màng bọc, bao bì thuốc và các hóa chất liên quan. Việc thu giữ, đóng gói và chuyển vật chứng đến giám định phải thực hiện đúng các yêu cầu bảo quản và ngăn ngừa sự tráo đổi, mỗi đồ vật được đóng gói riêng biệt, bao bì được niêm phong và ghi chú giải thích.
Việc trưng cầu giám định được thực hiện bằng quyết định của điều tra viên (hoặc của tòa án), trong đó ghi rõ căn cứ trưng cầu, họ tên giám định viên hoặc tên tổ chức giám định, các câu hỏi đặt ra và tài liệu được cung cấp. Theo Điều 207 BLTTHS, bị can, bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của họ có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định; trong trường hợp không chấp nhận đề nghị trưng cầu, họ có thể tự yêu cầu giám định theo quy định của Luật Giám định tư pháp[23].
Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán có thể có mặt trong quá trình thực hiện giám định sau khi thông báo trước cho giám định viên. Giám định có thể do một người hoặc hội đồng giám định viên thực hiện. Giám định viên có quyền: nghiên cứu tài liệu vụ án liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu cung cấp thêm tài liệu; tham gia thực hiện các hoạt động điều tra và đặt câu hỏi. Giám định viên có nghĩa vụ: có mặt theo giấy triệu tập; giữ bí mật điều tra; đưa ra kết luận khách quan dựa trên các nghiên cứu đã thực hiện. Kết luận giám định bao gồm: phần mở đầu ghi rõ căn cứ tiến hành giám định và thông tin về giám định viên; phần nghiên cứu mô tả quá trình và kết quả; phần kết luận chứa câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra. Kết luận được giám định viên ký và đóng dấu của tổ chức giám định.
Thứ tư, giám định bổ sung và giám định lại.
Theo Điều 210 BLTTHS, giám định bổ sung được trưng cầu khi kết luận giám định chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ, hoặc khi phát sinh vấn đề mới cần giám định có thể giao cho cùng giám định viên hoặc giám định viên khác. Giám định lại được trưng cầu khi kết luận giám định không có căn cứ, có nghi ngờ về tính đúng đắn, hoặc có mâu thuẫn giữa các kết luận của nhiều giám định viên phải giao cho giám định viên khác thực hiện. Nếu kết quả giám định lại vẫn mâu thuẫn với kết quả lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ quyết định trưng cầu giám định lại tiếp theo, thực hiện bởi hội đồng giám định viên mới theo quy định của Luật Giám định tư pháp, trong đó những người đã tham gia các lần giám định trước không được tham gia[24].
Thứ năm, những tồn tại và thách thức.
Mặc dù có hệ thống tổ chức tương đối phát triển và cơ sở pháp lý hiện đại, thực tiễn giám định tư pháp trong các vụ án ma túy vẫn đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng. Chất lượng và số lượng đội ngũ giám định viên tư pháp còn hạn chế, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với tính chất đặc thù, nguy hiểm của công việc, chưa thu hút được chuyên gia giỏi tham gia giám định. Tình trạng thiếu giám định viên có trình độ cao đặc biệt nghiêm trọng tại các tỉnh và vùng xa[25].
Trang thiết bị vật chất kỹ thuật của các phòng thí nghiệm cũng cần được tiếp tục hiện đại hóa, nhiều đơn vị giám định cấp tỉnh còn thiếu thiết bị phân tích công nghệ cao để nghiên cứu các loại ma túy tổng hợp mới. Một vấn đề nữa là thiếu hướng dẫn phương pháp thống nhất cho các chất hướng thần mới liên tục xuất hiện: các tổ chức tội phạm thường xuyên đưa vào lưu thông các ma túy tổng hợp có cấu trúc hóa học biến đổi để né tránh các quy định cấm hiện hành, đòi hỏi giám định viên phải không ngừng hoàn thiện phương pháp nghiên cứu và phản ứng nhanh trước các mối đe dọa mới[26].
Như vậy, hệ thống giám định tư pháp trong các vụ án ma túy tại Việt Nam đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện tích cực. Bên cạnh cơ sở pháp lý hiện đại (Luật 105/2025/QH15, Luật 99/2025/QH15), vẫn còn tồn tại các vấn đề liên quan đến nhân lực, trang thiết bị và phương pháp luận, đòi hỏi các biện pháp đồng bộ để hiện đại hóa hoạt động giám định.
3. Kiến nghị
Trên cơ sở phân tích các căn cứ pháp lý, tổ chức và thực tiễn giám định tư pháp trong các vụ án liên quan đến ma túy, có thể đề xuất sáu nhóm kiến nghị sau đây nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật. Cần ban hành Thông tư liên tịch của Bộ Công an, Bộ Y tế và Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15, quy định chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ bắt buộc cho giám định viên trong lĩnh vực chất ma túy với yêu cầu cụ thể về hóa học, dược lý học và phương pháp phân tích hiện đại, đây là khoảng trống pháp lý chưa được Luật 105/2025/QH15 bổ sung ở cấp độ văn bản hướng dẫn. Cần thiết lập tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc đối với phòng thí nghiệm giám định chất ma túy, phù hợp với khuyến nghị của UNODC và hướng tới công nhận theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025[27]. Cần cải cách thủ tục bổ sung danh mục chất ma túy (hiện quy định tại Nghị định 28/2026/NĐ-CP) theo hướng ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Công an ban hành danh mục tạm thời có hiệu lực ngay khi phát hiện chất hướng thần mới nguy hiểm, chờ bổ sung vào Nghị định chính thức, tránh tình trạng chất mới lưu hành tự do trong thời gian chờ sửa đổi Nghị định. Bên cạnh đó, VKSND tối cao cần ban hành hướng dẫn về công tác kiểm sát giám định tư pháp trong các vụ án ma túy, quy định rõ nghĩa vụ của kiểm sát viên khi kiểm tra kết luận giám định, yêu cầu kết luận phải nêu đầy đủ tên chất, hàm lượng hoạt chất và tổng khối lượng trước khi quyết định truy tố[28].
Thứ hai, nâng cao hiệu quả tổ chức. Cần tăng đáng kể số lượng giám định viên có trình độ cao trong lĩnh vực chất ma túy, đặc biệt tại các tỉnh và vùng xa, thông qua hệ thống đào tạo lý thuyết gắn với thực tập nghiệp vụ tại Viện Khoa học hình sự và Viện Pháp y Quốc gia. Cần xây dựng hệ thống phát triển nghề nghiệp liên tục với bồi dưỡng định kỳ, tham gia hội thảo khoa học và kiểm tra năng lực thông qua proficiency testing. Thay vì thành lập cơ quan mới gây chồng chéo chức năng, kiến nghị nâng cấp Viện Khoa học hình sự thành đơn vị đầu ngành quốc gia về giám định ma túy, đồng thời thành lập Hội đồng phối hợp liên ngành (Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Tư pháp, VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) để điều phối chính sách và giải quyết vướng mắc liên ngành[29].
Thứ ba, bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật. Cần hiện đại hóa trang thiết bị phân tích cho các phòng thí nghiệm giám định, đặc biệt tại cấp tỉnh, ưu tiên trang bị GC-MS, LC-MS/MS, IR, UV, NMR và thiết bị phân tích ADN. Cần xây dựng hệ thống cung cấp tập trung mẫu chuẩn chất ma túy và vật tư tiêu hao, bao gồm cả mẫu chuẩn của các ma túy tổng hợp mới liên tục xuất hiện trong lưu hành bất hợp pháp[30].
Thứ tư, hoàn thiện phương pháp luận. Cần ban hành hướng dẫn phương pháp thống nhất về giám định các loại chất ma túy khác nhau, phù hợp với tiêu chuẩn UNODC và được cập nhật thường xuyên theo sự xuất hiện của các chất hướng thần mới. Cần xây dựng hệ thống thông tin thống nhất về cơ sở dữ liệu tính chất hóa lý, đặc điểm quang phổ và phương pháp phân tích các chất ma túy, kết nối trực tuyến cho tất cả các đơn vị giám định toàn quốc; đồng thời chuẩn hóa quy trình nghiên cứu theo từng loại đối tượng giám định để bảo đảm tính đồng nhất trong kết luận[31].
Thứ năm, tăng cường phối hợp trong tố tụng. Cần hướng dẫn điều tra viên về khả năng của từng loại giám định, quy tắc thu giữ, đóng gói và chuyển vật chứng, cũng như cách thức xác định câu hỏi trưng cầu phù hợp. Để đạt mục tiêu này, cần xây dựng bộ câu hỏi mẫu dành cho từng loại đối tượng giám định (tang vật, mẫu sinh học, thực vật, tài liệu) và từng mục đích điều tra (định tội, xác định hàm lượng, xác định nguồn gốc), đồng thời tổ chức thường xuyên các hội thảo chuyên môn chung giữa điều tra viên, kiểm sát viên và giám định viên.
Thứ sáu, đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Cần tham gia Hệ thống Cảnh báo sớm về Chất hướng thần mới (EWA-NPS) của UNODC và kết nối với cơ sở dữ liệu hồ sơ hóa học ma túy của Interpol (IONICS) để trao đổi thông tin kịp thời về các loại ma túy tổng hợp mới và nguồn gốc các lô hàng thu giữ. Đặc biệt cần tăng cường hợp tác song phương và đa phương với Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và các quốc gia có liên quan trực tiếp đến tuyến vận chuyển ma túy từ khu vực Tam Giác Vàng qua lãnh thổ Việt Nam nhằm xây dựng hệ thống phản ứng chung trước các mối đe dọa từ tội phạm ma túy xuyên quốc gia[32].
4. Kết luận
Giám định tư pháp đóng vai trò quan trọng không thể thay thế trong hệ thống các phương tiện chứng minh trong tố tụng hình sự đối với các vụ án tội phạm ma túy tại Việt Nam. Chính kết luận giám định là căn cứ pháp lý để xác định đối tượng tội phạm, định tội danh và xác định mức hình phạt. Không có kết luận giám định đủ điều kiện thì không thể khởi tố, điều tra và xét xử thành công các vụ án liên quan đến ma túy. Cải cách pháp luật năm 2025 đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của giám định tư pháp ở Việt Nam, đặt ra các yêu cầu cao hơn về trình độ chuyên môn của giám định viên, tối ưu hóa các thủ tục và thời hạn tiến hành giám định. Luật Giám định tư pháp mới số 105/2025/QH15 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật, nhưng hiệu quả thực sự của nó phụ thuộc vào chất lượng triển khai các quy định vào thực tiễn pháp lý. Thực tiễn áp dụng giám định tư pháp trong điều tra tội phạm ma túy tại Việt Nam cho thấy sự gia tăng đáng kể về cả số lượng và tính phức tạp của các vụ giám định, do áp lực gia tăng từ hoạt động tội phạm có tổ chức và xuyên quốc gia, cũng như do những thay đổi trong pháp luật hình sự, đặc biệt là việc hình sự hóa một số trường hợp sử dụng ma túy theo Điều 256a Bộ luật Hình sự. Điều này làm nổi bật sự cần thiết phải tăng cường năng lực của hệ thống giám định thông qua đào tạo nhân lực, hiện đại hóa trang thiết bị và hoàn thiện phương pháp luận.Việc thực hiện các kiến nghị được đề xuất về hoàn thiện pháp luật, củng cố tổ chức, nâng cấp vật chất kỹ thuật và phát triển hợp tác quốc tế sẽ cho phép nâng cao đáng kể hiệu quả của giám định tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia và bảo vệ sức khỏe cộng đồng./.
Danh mục tài liệu tham khảo
- Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2025, Hà Nội.
- Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, Hà Nội.
- Quốc hội (2025), Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15, Hà Nội.
- Chính phủ (2026), Nghị định số 28/2026/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, ngày 19 tháng 01 năm 2026, Hà Nội.
- Hà Thị Khuyên (2022), Quy định pháp luật về trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự, Luật sư Việt Nam Online.
- Lã Thị Vân Anh (2025), Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng,Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 2(435), tháng 8/2025.
- Lê Minh Trung (2025), Sửa đổi Luật Giám định tư pháp và những vấn đề cần quan tâm nhìn từ công tác tố tụng các đại án kinh tế thời gian qua, Tạp chí Pháp lý.
- Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Tiến, Phân lập hợp chất FUB-AMB trong giám định pháp y các mẫu cần sa tổng hợp thu tại Việt Nam từ 2016 –2018, Tạp chí Y học Việt Nam.
- Nguyễn Thành Long (2021), Những bất cập của quy định pháp luật trong việc giám định hàm lượng chất ma túy, Luật sư Việt Nam Online.
- Nguyễn Thành Long (2021), Những bất cập của quy định pháp luật trong việc giám định hàm lượng chất ma túy, Luật sư Việt Nam Online.
- Phạm Văn Kiền, Đoàn Cao Sơn, Phạm Thị Minh Tâm, Trần Việt Hùng (2018), Ứng dụng DNA barcoding trong định danh ba kích (Radix Morinda officinalis How) ở Việt Nam, Tạp chí Dược học, 58(11).
[1] Quang Minh (2025, January 6), Triệt phá thành công 29.928 vụ, bắt giữ 51.938 đối tượng phạm tội về ma túy trong năm 2024, Bộ Công an. https://bocongan.gov.vn/bai-viet/triet-pha-thanh-cong-29928-vu-bat-giu-51938-doi-tuong-pham-toi-ve-ma-tuy-trong-nam-2024-d2-t43064, truy cập ngày 20/01/2026.
[2] Thùy Chi (2025, October 9), Bắt giữ hơn 19.000 vụ buôn bán ma túy trong 9 tháng năm 2025, Báo Chính phủ. https://baochinhphu.vn/bat-giu-hon-19000-vu-buon-ban-ma-tuy-trong-9-thang-nam-2025-102251009103348706.htm, truy cập ngày 20/01/2026.
[3] Báo Bảo vệ pháp luật (2025, May 25), Đến tháng 4/2025, toàn quốc có 369.359 người nghiện ma túy, https://baovephapluat.vn/phong-chong-toi-pham-ma-tuy/den-thang-4-2025-toan-quoc-co-369-359-nguoi-nghien-ma-tuy-178275.html, truy cập ngày 25/01/2026.
[4] Hải Nam (2025, March 26), Ông trùm Đài Loan và đường dây sản xuất 1,4 tấn ma túy ở Nha Trang, Dân trí, https://dantri.com.vn/phap-luat/ong-trum-dai-loan-va-duong-day-san-xuat-14-tan-ma-tuy-o-nha-trang-20250326152436170.htm, truy cập ngày 25/01/2026.
[5] Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2025, Hà Nội.
[6] Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, Hà Nội.
[7] Quốc hội (2025), Luật Giám định tư pháp, số 105/2025/QH15, Hà Nội.
[8] Lường Văn Thum (2025), Một số điểm mới các tội phạm ma túy theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, Báo Bảo vệ pháp luật. https://baovephapluat.vn/cai-cach-tu-phap/dien-dan/mot-so-diem-moi-cac-toi-pham-ma-tuy-theo-luat-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-bo-luat-hinh-su-180962.html, truy cập ngày 25/01/2026.
[9] Bộ Tư pháp. (2026), Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Cổng Thông tin Phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia. https://pbgdpl.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=4792&l=Gioithieuvanbanmoi, truy cập ngày 25/01/2026.
[10] Nguyễn Hương (2026), [Tổng hợp] 8 điểm mới Luật Giám định tư pháp 2025, LuatVietnam. https://luatvietnam.vn/hanh-chinh/diem-moi-luat-giam-dinh-tu-phap-2025-570-106516-article.html, truy cập ngày 25/01/2026.
[11] Báo Điện tử Chính phủ (2025), Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp, Xây dựng chính sách, pháp luật, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/quyet-dinh-so-08-2025-qd-ttg-ve-che-do-boi-duong-giam-dinh-tu-phap-119250405043415252.htm, cập nhật ngày 02/03/2026.
[12] Chính phủ (2026), Nghị định số 28/2026/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ngày 19 tháng 01 năm 2026, Hà Nội.
[13] Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (2023), Xây dựng phương pháp phân tích đồng thời một số ma túy tổng hợp nhóm kích thích thần kinh dạng amphetamin trong tóc bằng sắc ký khối phổ, VISTA, https://vista.gov.vn/news/ket-qua-nghien-cuu-trien-khai/xay-dung-phuong-phap-phan-tich-dong-thoi-mot-so-ma-tuy-tong-hop-nhom-kich-thich-than-kinh-dang-amphetamin-trong-toc-bang-sac-ky-khoi-pho-6331.html, truy cập ngày 10/02/2026.
[14] Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Tiến, Phân lập hợp chất FUB-AMB trong giám định pháp y các mẫu cần sa tổng hợp thu tại Việt Nam từ 2016–2018. Tạp chí Y học Việt Nam, https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/284/179, truy cập ngày 10/02/2026.
[15] Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh, (2019), Phát hiện loại ma túy chưa từng xuất hiện ở Việt Nam, eMed BVBND, https://emed.bvbnd.vn/page/blog/phat-hien-loai-ma-tuy-chua-tung-xuat-hien-o-viet-nam/, truy cập ngày 15/02/2026.
[16] Hà Quốc Khanh (2023), Lịch sử giám định ADN và xu hướng phát triển. GENTIS. https://gentis.com.vn/tin-tuc-c4/lich-su-giam-dinh-adn-va-xu-huong-phat-trien-d1145, truy cập ngày 15/02/2026.
[17] Phạm Văn Kiền, Đoàn Cao Sơn, Phạm Thị Minh Tâm, Trần Việt Hùng (2018), Ứng dụng DNA barcoding trong định danh ba kích (Radix Morinda officinalis How.) ở Việt Nam, Tạp chí Dược học, 58(11), https://vjol.info.vn/index.php/tcdh/article/view/38002, truy cập ngày 15/02/2026.
[18] My Hanh (2024), Giám định tài liệu trong khoa học hình sự, Trung tâm tư vấn, giám định dân sự (CCCA), http://giamdindansu.vn/giam-dinh-tai-lieu-trong-khoa-hoc-hinh-su/, truy cập ngày 15/02/2026.
[19] Hoàng Anh (2021), 6 tiêu chuẩn chẩn đoán tình trạng nghiện ma túy, Tiếng Chuông. https://tiengchuong.chinhphu.vn/6-tieu-chuan-chan-doan-tinh-trang-nghien-ma-tuy-11336361.htm, truy cập ngày 15/02/2026.
[20] Báo Bảo vệ pháp luật (2024), Trong 5 năm đã thực hiện trên 1 triệu vụ việc giám định tư pháp, https://baovephapluat.vn/chong-tham-nhung-lang-phi/trong-5-nam-da-thuc-hien-tren-1-trieu-vu-viec-giam-dinh-tu-phap-167522.html, truy cập ngày 25/02/2026.
[21] Phương Anh (2025, December 23), Viện Khoa học hình sự triển khai nhiệm vụ công tác năm 2026, Bộ Công an. https://bocongan.gov.vn/bai-viet/vien-khoa-hoc-hinh-su-trien-khai-nhiem-vu-cong-tac-nam-2026-1766465733, ngày 20/02/2026.
[22] Văn Lực (2026), Tổng kết công tác Kỹ thuật hình sự năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026, Công an tỉnh Tây Ninh, https://congan.tayninh.gov.vn/vi/chi-tiet-tin-tuc?Id=267366, ngày 21/02/2026.
[23] Phương Anh (2023, October 7), Việc trưng cầu giám định trong vụ án hình sự, Ban Nội chính Trung ương, https://noichinh.vn/hoi-dap-phap-luat/202310/viec-trung-cau-giam-dinh-trong-vu-an-hinh-su-313063/, truy cập ngày 10/02/2026.
[24] Hà Thị Khuyên (2022), Quy định pháp luật về trưng cầu giám định trong tố tụng hình sự. Luật sư Việt Nam Online, https://lsvn.vn/quy-dinh-phap-luat-ve-trung-cau-giam-dinh-trong-to-tung-hinh-su1663696472-a124174.html, cập nhật ngày 25/02/2026.
[25] Lê Minh Trung (2025), Sửa đổi Luật Giám định tư pháp và những vấn đề cần quan tâm nhìn từ công tác tố tụng các đại án kinh tế thời gian qua, Tạp chí Pháp lý. https://phaply.net.vn/sua-doi-luat-giam-dinh-tu-phap-va-nhung-van-de-can-quan-tam-nhin-tu-cong-tac-to-tung-cac-dai-an-kinh-te-thoi-gian-qua-a260745.html, truy cập ngày 25/02/2026
[26] Nguyễn Thành Long (2021), Những bất cập của quy định pháp luật trong việc giám định hàm lượng chất ma túy, Luật sư Việt Nam Online, https://lsvn.vn/nhung-bat-cap-cua-quy-dinh-phap-luat-trong-viec-giam-dinh-ham-luong-chat-ma-tuy-a18358.html, truy cập ngày 25/02/2026.
[27] Nguyễn Phú Quốc (2021), Nâng cao chất lượng, độ tin cậy kết quả thử nghiệm với ISO/IEC 17025, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, https://tcvn.gov.vn/nang-cao-chat-luong-do-tin-cay-ket-qua-thu-nghiem-voi-iso-iec-17025/23/08/2021/, truy cập ngày 25/02/2026.
[28] Lã Thị Vân Anh (2025), Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 2(435), tháng 8/2025, https://danchuphapluat.vn/giai-phap-nang-cao-chat-luong-hoat-dong-cua-nguoi-giam-dinh-tu-phap-va-to-chuc-giam-dinh-tu-phap-dap-ung-yeu-cau-thuc-tien-cua-hoat-dong-to-tung-7616.html, truy cập ngày 25/02/2026.
[29] Lã Thị Vân Anh (2025), Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của người giám định tư pháp và tổ chức giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu thực tiễn của hoạt động tố tụng,Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 2(435), tháng 8/2025, https://danchuphapluat.vn/giai-phap-nang-cao-chat-luong-hoat-dong-cua-nguoi-giam-dinh-tu-phap-va-to-chuc-giam-dinh-tu-phap-dap-ung-yeu-cau-thuc-tien-cua-hoat-dong-to-tung-7616.html, truy cập ngày 28/02/2026.
[30] Nguyễn Thành Long (2021), Những bất cập của quy định pháp luật trong việc giám định hàm lượng chất ma túy, Luật sư Việt Nam Online, https://lsvn.vn/nhung-bat-cap-cua-quy-dinh-phap-luat-trong-viec-giam-dinh-ham-luong-chat-ma-tuy-a18358.html, truy cập ngày 03/03/2026.
[31] United Nations Office on Drugs and Crime, (2006), Recommended methods for the identification and analysis of amphetamine, methamphetamine and their ring-substituted analogues in seized materials: Manual for use by national drug testing laboratories (Revised and updated). United Nations. https://www.unodc.org/unodc/en/scientists/recommended-methods-for-the-identification-and-analysis-of-amphetamine–methamphetamine-and-their-ring-substituted-analogues-in-seized-materials.html, truy cập ngày 10/03/2026.
[32] Health Research Board National Drugs Library (2025),Drugs and Alcohol entry no. 37117, https://www.drugsandalcohol.ie/37117/, truy cập ngày 03/03/2026.