ĐẶC ĐIỂM – TRÌNH TỰ THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ths. Nguyễn Thị Phượng – GV. Khoa Dân sự, hành chính và KSHĐTP
CN. Cao Thanh Nga – Phòng Quản trị
Đặt vấn đề
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đẩy mạnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh. Thi hành án hành chính (THAHC) chính là giai đoạn sau xét xử có ý nghĩa quyết định nhằm hiện thực hóa các phán quyết tư pháp đó trên thực tế, qua đó khẳng định hiệu lực của hoạt động xét xử và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, do chủ thể phải thi hành án trong lĩnh vực này phần lớn là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong bộ máy quyền lực công, nên hoạt động THAHC mang tính đặc thù rất sâu sắc và có trình tự, thủ tục vận hành hoàn toàn khác biệt so với thi hành án dân sự hay hình sự. Việc một bộ phận cơ quan hành chính chậm thi hành án hoặc không tổ chức thi hành đầy đủ bản án hành chính của không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi của người dân, mà còn ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương công vụ và tính nghiêm minh của pháp chế. Trước thực tế đó, Hiến pháp năm 2013, Luật Tố tụng hành chính và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã giao cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động THAHC. Hoạt động kiểm sát này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm mọi phán quyết của Tòa án được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt đổi mới, tinh gọn bộ máy và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nhiều vấn đề pháp lý mới về xác định chủ thể kế thừa nghĩa vụ và trách nhiệm công vụ trong THAHC đã phát sinh. Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện các đặc điểm cốt lõi, trình tự thủ tục THAHC, gắn liền với việc phân tích sâu sắc vị trí, vai trò của VKSND trong khâu công tác này là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn nghiệp vụ thực tiễn đối với cán bộ, Kiểm sát viên trong giai đoạn hiện nay.
- Khái niệm và đặc điểm đặc thù của thi hành án hành chính
1.1. Khái niệm thi hành án hành chính và bản chất hành chính – tư pháp
Thi hành án hành chính là một chế định pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giữ vai trò bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thực thi trên thực tế, qua đó khẳng định hiệu lực của hoạt động xét xử và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nếu hoạt động xét xử hành chính là giai đoạn nhận diện, đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện để đưa ra phán quyết khách quan, thì giai đoạn THAHC chính là quá trình hiện thực hóa các phán quyết đó trong đời sống thực tiễn.
Dưới góc độ học thuật và học thuyết tư pháp hành chính hiện đại, việc thi hành các phán quyết của Tòa án hành chính là thước đo cơ bản phản ánh mức độ tôn trọng pháp luật, nguyên tắc pháp quyền và trách nhiệm công vụ của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Ngay cả trong Khuyến nghị số Rec(2003)16 của Ủy ban Bộ trưởng Hội đoàn Châu Âu[1] cũng đã nhấn mạnh rằng, để duy trì lòng tin của người dân vào hệ thống hành chính và tư pháp, các phán quyết của tòa án trong lĩnh vực luật hành chính công nhận quyền của người dân đều cần được thi hành một cách nghiêm túc.
Tại Việt Nam, dưới góc độ pháp lý thực trị, Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa chính thức đầu tiên: “Thi hành án hành chính là việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành theo quy định tại Điều 309 Luật Tố tụng hành chính, trừ quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính”[2].
Quy định này đã vạch rõ ranh giới phân định phạm vi giữa THAHC và thi hành án dân sự (THADS). Đối với các nghĩa vụ về tài sản, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ bản án hành chính (như bồi thường thiệt hại bằng tiền), việc tổ chức thi hành sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành án dân sự và thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan THADS. Ngược lại, đối tượng đối với THAHC không mang tính chất tài sản thuần túy mà là các nghĩa vụ mang tính quyền lực công đặc biệt, phát sinh trực tiếp từ hoạt động quản lý hành chính nhà nước[3]. Các nghĩa vụ này bao gồm: Hủy bỏ, sửa đổi quyết định hành chính trái pháp luật; chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật; cấp giấy tờ, giải quyết các thủ tục hành chính hoặc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức theo nội dung phán quyết của Tòa án.
Bản chất của THAHC là một hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp đặc thù. Tính chất “tư pháp” thể hiện ở chỗ đối tượng cần thi hành bắt buộc phải là các phán quyết tư pháp đã phát sinh hiệu lực pháp luật hoặc được quyền thi hành ngay của Tòa án. Tính chất “hành chính” thể hiện ở chỗ chủ thể có nghĩa vụ chấp hành phần lớn là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính, và nội dung thi hành chính là việc thực thi các nhiệm vụ công vụ theo thẩm quyền hành chính công.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, giai đoạn này được nhìn nhận là một giai đoạn tố tụng độc lập[4], vừa tổng kết, đánh giá kết quả giải quyết tranh chấp của Tòa án giữa một bên là công dân và một bên là chính quyền, vừa là hoạt động tổ chức thực hiện các nghĩa vụ mang tính công vụ quyền lực công. Do đó, việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ THAHC không chỉ là việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện, mà còn khẳng định trách nhiệm thượng tôn pháp luật của cơ quan quản lý, nâng cao tính hợp pháp, kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính nhà nước.
1.2. Các đặc điểm đặc thù của thi hành án hành chính trong hệ thống pháp luật
Để phân biệt với các loại hình thi hành án khác, đặc biệt là thi hành án dân sự, THAHC sở hữu những đặc điểm mang tính đặc trưng chi phối toàn bộ quy trình vận hành và cơ chế bảo đảm:
Thứ nhất, THAHC vận hành theo cơ chế “tự thi hành” là chủ yếu, dựa trên ý thức chấp hành và trách nhiệm công vụ của người phải thi hành án. Nền tảng pháp lý của THADS hay thi hành án hình sự thiết lập một chủ thể độc lập thứ ba (Cơ quan THADS hoặc cơ quan thi hành án hình sự) được Nhà nước trao quyền lực và công cụ tổ chức cưỡng chế trực tiếp đối với tài sản, nhân thân của người phải thi hành án. Tuy nhiên, trong THAHC, pháp luật không thiết lập một cơ quan chuyên trách tư pháp trực tiếp có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế vật chất tương tự. Do chủ thể phải thi hành án chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong bộ máy quyền lực công, nên việc thi hành án phụ thuộc rất lớn vào trách nhiệm công vụ, tinh thần tự giác chấp hành phán quyết của Tòa án và ý thức tuân thủ pháp luật tư pháp của chính các cơ quan đó.
Thứ hai, THAHC gắn liền và tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Nội dung của bản án hành chính khi đưa ra thi hành không nhằm vào các giao dịch dân sự, tài sản, mà nhắm thẳng vào các quan hệ pháp luật hành chính mang tính chất mệnh lệnh – phục tùng. Việc cơ quan hành chính ban hành một quyết định mới, hủy bỏ một quyết định thu hồi đất sai quy định, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay lập phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư cho người dân theo phán quyết của Tòa án… đều là những hoạt động thực thi chức năng quản lý nhà nước.
Thứ ba, cơ chế bảo đảm THAHC được thực hiện thông qua các biện pháp theo dõi, nhắc nhở, đôn đốc hành chính, chính trị và kỷ luật nội bộ thay vì cưỡng chế tài sản. Vì không có cơ chế cưỡng chế trực tiếp, hệ thống pháp luật bảo đảm hiệu lực THAHC bằng trách nhiệm chỉ đạo, đôn đốc của Thủ trưởng trực tiếp và Thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án. Khi người phải thi hành án vi phạm nghĩa vụ tự nguyện, việc xử lý sẽ dựa trên việc ban hành văn bản chỉ đạo của cấp trên, áp dụng các hình thức kỷ luật cán bộ, công chức, công khai thông tin chậm thi hành án trên các phương tiện truyền thông điện tử của Chính phủ, hoặc kiến nghị xem xét trách nhiệm hành chính, kỷ luật, hình sự theo quy định.
Thứ tư, THAHC có sự tham gia phối hợp đan xen của nhiều chủ thể quyền lực nhà nước khác nhau. Trong mối quan hệ này, Tòa án giữ vai trò là cơ quan xét xử, theo dõi và có thẩm quyền ra quyết định “buộc thi hành án hành chính” mang tính bắt buộc. Cơ quan THADS đóng vai trò là cơ quan đầu mối mở hồ sơ theo dõi, lập biên bản làm việc và kiến nghị xử lý trách nhiệm. Cơ quan cấp trên của cơ quan (người phải thi hành án) chịu trách nhiệm đôn đốc, nhắc nhở cấp dưới của mình thi hành án đúng theo bản án đã ban hành. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tư pháp của tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ thi hành án. Hệ thống đa chủ thể này tạo thành một cơ chế kiểm soát, giám sát đa chiều nhằm bảo đảm phán quyết của Tòa án được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất.
- Nội dung và trình tự, thủ tục thi hành án hành chính
2.1. Nội dung thi hành án hành chính
Về bản chất pháp lý, nội dung của THAHC không mang tính chất tác động bằng các biện pháp cưỡng chế trực tiếp lên tài sản hay nhân thân của người phải thi hành án. Nội dung này xuất phát từ các yêu cầu pháp lý, buộc chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ công vụ mang tính quyền lực nhà nước đã được xác định cụ thể trong phán quyết Tòa án. Các nhóm nội dung nghĩa vụ này bao gồm:
Một là, nghĩa vụ ban hành quyết định hành chính mới, bổ sung hoặc cải sửa quyết định hành chính cũ: Thường phát sinh trong các vụ việc Tòa án tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật (như quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, quyết định xử phạt vi phạm hành chính) và buộc cơ quan hành chính phải lập lại quy trình, ban hành quyết định mới đúng quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho người dân.
Hai là, nghĩa vụ hủy bỏ hoặc sửa đổi quyết định hành chính trái pháp luật: Cơ quan hành chính phải ban hành văn bản chính thức để bãi bỏ hiệu lực của quyết định bị Tòa án tuyên hủy hoặc sửa đổi các nội dung trái pháp luật theo đúng tinh thần phán quyết của Tòa án.
Ba là, nghĩa vụ chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật: Buộc người có thẩm quyền hoặc cơ quan hành chính phải dừng ngay các hoạt động, hành vi thực tế đang xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức (như hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất hợp pháp, hành vi cưỡng chế phá dỡ công trình trái quy trình thủ tục).
Bốn là, nghĩa vụ thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi hành chính nhất định: Tòa án buộc cơ quan hành chính phải thực hiện một nhiệm vụ công vụ theo quy định (như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại) hoặc không được thực hiện một hành vi cụ thể ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Năm là, nghĩa vụ khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện các trách nhiệm công vụ khác: Bao gồm việc nhận trở lại làm việc, giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ công chức bị buộc thôi việc trái pháp luật; thực hiện các nghĩa vụ bồi hoàn, khôi phục lại hiện trạng ban đầu cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật gây ra.
Nội dung THAHC phản ánh sâu sắc mối quan hệ mang tính quyền lực nhà nước giữa một bên là chủ thể quản lý hành chính (cơ quan hành chính nhà nước, người đứng đầu cơ quan hành chính) và một bên là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích hợp pháp được Tòa án bảo vệ. Do đặc thù gắn liền với hoạt động công vụ, nội dung của THAHC mang nặng tính hành chính – công vụ hơn là tính chất tài sản. Việc thực hiện đầy đủ các nội dung nghĩa vụ theo bản án không đơn thuần là việc giải quyết lợi ích riêng lẻ cho người được thi hành án, mà còn khẳng định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước trong việc tôn trọng, chấp hành phán quyết tư pháp, góp phần nâng cao tính hợp pháp, kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động quản lý, củng cố nguyên tắc thượng tôn pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước.
2.2. Trình tự, thủ tục thi hành án hành chính
Khác với trình tự, thủ tục trong thi hành án dân sự hay thi hành án hình sự – nơi việc tổ chức thi hành án được giao hoàn toàn cho một cơ quan chuyên trách thứ ba thực hiện theo các bước cưỡng chế nghiêm ngặt, trình tự, thủ tục THAHC thiết lập một cơ chế mang tính chất đặc thù. Cơ chế này vừa đề cao nghĩa vụ tự giác, tự chấp hành của cơ quan hành chính, vừa đan xen trách nhiệm theo dõi của cơ quan THADS, trách nhiệm chỉ đạo của cơ quan cấp trên trực tiếp, vai trò ban hành quyết định buộc thi hành án của Tòa án và chức năng kiểm sát của VKSND nhằm đảm bảo hoạt động thi hành án diễn ra kịp thời, đúng luật. Căn cứ vào các quy định của Luật TTHC[5] và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP của Chính phủ, quy trình thủ tục THAHC được thực hiện theo các giai đoạn và mốc thời gian chặt chẽ sau:
Giai đoạn 1: Thủ tục tự nguyện thi hành án
Sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc được thi hành ngay, người phải thi hành án có nghĩa vụ chủ động, tự giác tổ chức thi hành bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp khẩn cấp do tính chất vụ việc quy định (như sửa đổi dứt điểm danh sách cử tri hoặc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời), người phải thi hành án buộc phải tự tổ chức, thực hiện thi hành ngay lập tức.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án nêu trên, cơ quan phải thi hành án có trách nhiệm thông báo bằng văn bản chính thức về tình hình, tiến độ và kết quả thi hành án cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, VKSND cùng cấp và cơ quan THADS cùng cấp, đồng thời phải gửi báo cáo lên cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý. Nếu trong giai đoạn này, các nội dung nghĩa vụ đã được thực hiện xong, đầy đủ thì thủ tục THAHC chính thức kết thúc.
Giai đoạn 2: Thủ tục yêu cầu và ban hành quyết định buộc thi hành án hành chính
Trường hợp đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án (30 ngày) mà người phải thi hành án trì hoãn, không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ, người được thi hành án có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án đã xét xử sơ thẩm ban hành quyết định buộc THAHC. Việc yêu cầu này có thể thực hiện thông qua nhiều hình thức: nộp đơn trực tiếp, gửi qua dịch vụ bưu chính hoặc trình bày bằng lời nói tại Tòa án. Đơn yêu cầu phải bảo đảm đầy đủ các nội dung thông tin cốt lõi theo luật định và kèm theo bản sao bản án cùng tài liệu liên quan.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hợp lệ của đương sự, Tòa án đã xét xử sơ thẩm bắt buộc phải ban hành Quyết định buộc THAHC. Quyết định này phải được gửi ngay cho các chủ thể có liên quan bao gồm: Người phải thi hành án, người được thi hành án, cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án, VKSND và cơ quan THADS cùng cấp. Việc ban hành quyết định buộc thi hành án của Tòa án chính là cơ sở pháp lý cao nhất chuyển hoạt động thi hành án từ cơ chế tự nguyện sang cơ chế bắt buộc hành chính.
Giai đoạn 3: Thủ tục đôn đốc, theo dõi và chỉ đạo sau khi có quyết định buộc thi hành án
Sau khi quyết định buộc THAHC của Tòa án phát sinh hiệu lực, trình tự thủ tục được triển khai đồng thời qua ba nhánh trách nhiệm phối hợp:
Trách nhiệm của người phải thi hành án và người đứng đầu: Người đứng đầu cơ quan phải thi hành án phải trực tiếp đứng ra tổ chức thi hành ngay phán quyết và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật, trước cơ quan cấp trên. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thi hành xong, phải gửi thông báo kết quả cho Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan THADS.
Trình tự chỉ đạo của người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định buộc THAHC của Tòa án, cơ quan cấp trên phải ban hành văn bản chỉ đạo, yêu cầu người phải thi hành án nghiêm chỉnh thực hiện. Nếu cấp dưới vẫn tiếp tục không tổ chức thi hành án, cơ quan cấp trên có trách nhiệm ban hành văn bản xử lý trách nhiệm kỷ luật hoặc đề nghị cơ quan thẩm quyền xử lý cán bộ theo quy định, nhằm bảo đảm kỷ cương hành chính.
Trình tự theo dõi của cơ quan thi hành án dân sự: Được tiến hành chặt chẽ theo quy trình kỹ thuật gồm các bước:
Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra tính hợp pháp, vào sổ theo dõi bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính và phân công Chấp hành viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ theo dõi vụ việc.
Bước 2: Ban hành văn bản thông báo về việc tự nguyện thi hành án gửi cho người phải thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án. Nếu người phải thi hành án vi phạm, cơ quan THADS ban hành văn bản kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý trách nhiệm cán bộ.
Bước 3 (Khi có quyết định buộc THAHC): Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định buộc THAHC từ Tòa án, Chấp hành viên được phân công phải trực tiếp làm việc với người phải thi hành án để thông báo, yêu cầu thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ. Tiến hành gửi hoặc đăng tải công khai thông tin (Quyết định buộc THAHC) trên Trang thông tin điện tử của Cục THADS tỉnh, tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục THADS và Cổng thông tin điện tử của Chính phủ đối với người phải thi hành án từ cấp tỉnh, Bộ trưởng trở lên; chấm dứt công khai trong vòng 02 ngày làm việc khi nhận được thông báo thi hành xong. Chấp hành viên có quyền triệu tập các đương sự để lập biên bản về việc không thi hành án, đồng thời ban hành văn bản kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử lý nghiêm trách nhiệm kỷ luật đối với người phải thi hành án vi phạm.
Bước 4: Cập nhật toàn bộ thông tin về tiến trình, kết quả xử lý vào hồ sơ theo dõi THAHC và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo quy định nghiệp vụ[6].
3. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong cơ chế kiểm sát thi hành án hành chính
Trong cấu trúc tổng thể của cơ chế THAHC tại Việt Nam, VKSND là chủ thể thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực này. Căn cứ quy định tại Điều 315 Luật Tố tụng hành chính (TTHC) và hệ thống Luật Tổ chức VKSND[7], Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đối với Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự (THADS), cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Khác với các mô hình tư pháp trên thế giới nơi việc giám sát thi hành phán quyết hành chính thường được giao cho hệ thống Tòa án độc lập hoặc các cơ quan thanh tra công vụ, mô hình kiểm sát THAHC của Việt Nam mang tính đặc thù sâu sắc, thể hiện sự kiểm soát đa chiều, bảo đảm mọi hoạt động tư pháp và hành chính công vụ nằm trong khuôn khổ của pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Vai trò cốt lõi và trước hết của VKSND là công cụ pháp lý bảo đảm tính nghiêm minh, hiệu lực, hiệu quả của các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính. Trong thực tiễn tư pháp, giá trị pháp lý của một bản án không chỉ dừng lại ở sự chuẩn mực, khách quan trong xét xử, mà quyết định ở khả năng hiện thực hóa phán quyết đó trong đời sống. Đặc biệt, trong lĩnh vực hành chính, do người phải thi hành án là các cơ quan quản lý nhà nước – những chủ thể nắm giữ quyền lực công, tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện tâm lý không đồng thuận với phán quyết, e ngại sửa sai hoặc chậm trễ thực hiện nghĩa vụ công vụ.Viện kiểm sát đóng vai trò là động lực thúc đẩy các phán quyết tư pháp được thi hành dứt điểm, bảo vệ tính thượng tôn của pháp luật, củng cố uy tín của hoạt động xét xử và khẳng định niềm tin của Nhân dân vào công lý, vào cơ quan tài phán của Nhà nước.
Xét về phương diện kiểm soát quyền lực nhà nước, kiểm sát THAHC của Viện kiểm sát đóng vai trò là phương thức kiểm soát việc thực thi quyền lực hành chính hữu hiệu thông qua cơ chế tư pháp. Đây là một mắt xích không thể thiếu trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta – quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Khi một quyết định hành chính bị Tòa án tuyên hủy do trái pháp luật, cơ quan hành chính có nghĩa vụ ban hành quyết định mới hoặc khôi phục quyền lợi cho đương sự. Hoạt động kiểm sát của VKSND không nhằm mục đích can thiệp, thay thế trách nhiệm quản lý chuyên môn hay tổ chức thực hiện của cơ quan hành chính, mà hướng thẳng vào việc kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể quyền lực hành pháp. Việc kiểm sát từ khâu ban hành văn bản thực hiện bản án, đối chiếu thời hạn công vụ đến việc xem xét trách nhiệm giải trình của người đứng đầu chính là cơ chế kiểm sát của VKSND. Vai trò này thúc đẩy các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ, trách nhiệm, thượng tôn pháp luật.
Ở một khía cạnh mang tính nhân văn và dân chủ, VKSND giữ vai trò là chủ thể bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng trong giai đoạn thi hành án. Bản chất của các tranh chấp hành chính xuất phát từ sự bất bình đẳng về vị thế pháp lý giữa một bên là công dân, doanh nghiệp (chủ thể bị quản lý) và một bên là chính quyền (chủ thể quản lý). Khi người dân đã trải qua quá trình tố tụng để có được một bản án công tâm bảo vệ quyền lợi của mình (ví dụ như được bồi thường đất đai thỏa đáng, được hủy bỏ quyết định thu hồi đất sai quy định), nếu bản án đó bị cơ quan hành chính chậm thi hành hoặc không thi hành, quyền lợi hợp pháp của người dân sẽ tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng, làm suy giảm niềm tin vào pháp chế. Thông qua các quyền năng pháp lý của mình, VKSND giám sát chặt chẽ tiến trình khôi phục lại hiện trạng ban đầu, buộc cơ quan hành chính phải hủy bỏ quyết định sai trái “trên thực tế” thay vì chỉ hủy bỏ “trên giấy”, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ. Đồng thời, ở chiều ngược lại, Viện kiểm sát cũng bảo vệ lợi ích công, tài sản công của Nhà nước trong các vụ việc Tòa án tuyên buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ hành chính, nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách quốc gia.
Một vai trò mang tính phòng ngừa và phát triển không thể không nhắc đến là chức năng phòng ngừa vi phạm pháp luật và tham mưu hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách quốc gia. Thông qua công tác kiểm sát trực tiếp, nghiên cứu hồ sơ theo dõi của cơ quan THADS hoặc rà soát các vụ án hành chính tồn đọng, kéo dài theo chuyên đề, VKSND không chỉ dừng lại ở việc bóc tách, chỉ ra các sai phạm đơn lẻ mang tính kỹ thuật của Tòa án hay Chấp hành viên. Hoạt động kiểm sát thể hiện ở việc nhận diện ra những nguyên nhân dẫn đến vi phạm, hoặc các vướng mắc mang tính hệ thống của các địa phương (ví dụ như vướng mắc về nguồn kinh phí bồi thường bồi hoàn, sự xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, bồi thường, hỗ trợ tái định cư). Từ thực tiễn này, VKSND ban hành các kiến nghị phòng ngừa gửi tới Chủ tịch Ủy ban nhân dân, kiến nghị sửa đổi thể chế gửi tới các cơ quan có thẩm quyền, từ đó khắc phục các khoảng trống pháp lý, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, thúc đẩy sự vận hành của hệ thống cơ quan nhà nước, đáp ứng toàn diện các mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới
Kết luận
Tóm lại, THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính hiện hành là một hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp đặc thù, được vận hành chủ yếu dựa trên sự kết hợp giữa nghĩa vụ tự giác công vụ của cơ quan quản lý và sự đôn đốc, giám sát mang tính quyền lực của các cơ quan tư pháp. Việc nhận diện rõ các đặc điểm cấu trúc và tuân thủ chặt chẽ trình tự, thủ tục pháp lý từ giai đoạn tự nguyện đến buộc thi hành án không chỉ giúp các chủ thể thực hiện đúng thẩm quyền, mà còn là cơ sở vững chắc để nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người dân bị xâm phạm. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định VKSND giữ vai trò là chủ thể bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật trong giai đoạn thi hành án. Thông qua hai quyền năng pháp lý của mình là quyền yêu cầu và quyền kiến nghị, Viện kiểm sát đã kịp thời phát hiện các vi phạm của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự và người phải thi hành án, yêu cầu, kiến nghị khắc phục các hành vi đó, từ đó thúc đẩy việc giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, kéo dài.
Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy và thực hiện tinh giản biên chế hiện nay, những thách thức mới phát sinh đòi hỏi ngành Kiểm sát nhân dân phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức kiểm sát theo quá trình thi hành án, chuyển đổi số, số hóa hồ sơ và hoàn thiện cơ chế hậu kiểm. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu lực thực tế của quyền kiến nghị, quyền yêu cầu của Viện kiểm sát, mà còn góp phần quan trọng xây dựng một nền hành chính phục vụ, thượng tôn pháp luật, đáp ứng toàn diện các mục tiêu chiến lược của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới theo đúng tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW[8] của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 06/6/2026 của Bộ Chính trị[9].
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 06/6/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới.
- Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2025).
- Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
- Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự (2018), Quy trình theo dõi thi hành án hành chính (Ban hành kèm theo Quyết định số 1130/QĐ-TCTHADS ngày 16 tháng 10 năm 2018).
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính, NXB. Công an nhân dân, tr. 193-194.
- Lê Việt Sơn (2021), Luận án Tiến sĩ Luật học: Thi hành án hành chính ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
- Khuyến nghị số Rec(2003)16 của Ủy ban Bộ trưởng gửi các nước thành viên về việc thi hành các quyết định hành chính và tư pháp trong lĩnh vực luật hành chính (Hội đồng Châu Âu).
[1] Rec(2003)16 – Recommendation of the Committee of Ministers to member states on the execution of administrative and judicial decisions in the field of administrative law (Adopted by the Committee of Ministers on 9 September 2003).
[2] Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
[3] Lê Việt Sơn (2021), Luận án Tiến sĩ Luật học: Thi hành án hành chính ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
[4] Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính, NXB. Công an nhân dân, tr. 193-194.
[5] Điều 309, Điều 311 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[6] Tổng Cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự (2018), Quy trình theo dõi thi hành án hành chính (Ban hành kèm theo Quyết định số 1130/QĐ-TCTHADS ngày 16/10/2018).
[7] Điều 315 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 28 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[8] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới
[9] Bộ Chính trị (2026), Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 06/06/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới.